Thứ Hai, 25 tháng 5, 2026

Nam Tiến thôi ..

 Nam Tiến thôi .. hỡi các ae Hà Lội


*P/s: bà con nhân dân ở Dự Án Trục Đại Nộ Sông Hồng có chỗ tuyệt vời để an cư rồi nhé


Bí nắm .. rùi


     Bí nắm .. rùi



Thứ Ba, 19 tháng 5, 2026

Muốn cải tạo xã hội ..



“Muốn cải tạo xã hội mà đảng viên không tự cải tạo mình, không tự nâng cao mình thì không thể được”


Hồ Chủ Tịch

Chủ Nhật, 17 tháng 5, 2026

Đừng tránh .. phân bón

ĐỪNG TRÁNH .. PHÂN BÓN

Tất cả mọi thứ nên được diễn ra trong đúng thời điểm của nó. Nếu không, mọi thứ sẽ trở nên xấu xí.

Một đứa trẻ chạy theo những con bướm thì không sao, nhưng một người đàn ông lớn tuổi chạy quanh những con bướm sẽ có vẻ điên khùng. Tuổi trẻ nhất định phải ngốc một chút. Người ta mong đợi điều đó và cũng chấp nhận nó. Không có gì là sai trong nó.

Đó phải là một cái gì đó cơ bản cho cuộc sống: đôi khi trở nên ngu ngốc, bởi vì trí huệ đến từ kinh nghiệm của nhiều điều ngu xuẩn. 

Bạn không thể trở nên trí huệ một cách đột ngột. Bạn sẽ phải di chuyển, và đi lạc lối, và làm nhiều điều ngu xuẩn. Và từ tất cả những hành động đó, ngu xuẩn hay không, trí huệ nảy sinh.

Trí huệ giống như hương thơm, và những trải nghiệm điên rồ giống như phân bón. Chúng bốc mùi! – Nhưng những bông hoa đẹp mọc ra từ chúng. 


Vì vậy, .. đừng tránh phân bón của cuộc sống, nếu không bạn sẽ bỏ lỡ những bông hoa trí huệ. Và bạn có thể kìm nén ham muốn từ phía này, nhưng nó sẽ bắt đầu nảy sinh từ phía khác. 

Bạn không thể lừa dối cuộc sống.


Thầy Osho

*photo: Net

Thứ Bảy, 16 tháng 5, 2026

Thứ Tư, 13 tháng 5, 2026

Chủ Nhật, 10 tháng 5, 2026

Hậu .. Ngày Chiến Thắng

HẬU .. NGÀY CHIẾN THẮNG
Ngày 9/5/1945, khi lá cờ đỏ Chiến Thắng phấp phới trên tòa nhà Quốc Hội Đức - đánh dấu sự kết thúc cuộc Chiến Tranh Vệ Quốc vĩ đại của quân và dân Liên Xô. Đây là cuộc chiến tranh tàn khốc nhất, đổ máu nhiều nhất và khủng khiếp nhất trong lịch sử nhân loại. Kể từ đó, Ngày 9/5 - "Ngày Chiến Thắng" được tổ chức kỷ niệm hàng năm tại Nga và một số Quốc Gia thuộc Liên Xô cũ. Cũng kể từ đó, nhiều thế hệ người Miền Bắc chúng ta - những người được sinh ra trước những năm 89 - 90 có phần đông đều cùng chung quan điểm rằng Hồng quân Liên Xô - lực lượng đã tiến hành cuộc Chiến Tranh Vệ Quốc chính nghĩa vĩ đại, lực lượng đã đóng vai trò quan trọng trong việc đánh bại Chủ Nghĩa Phát Xít bạo tàn giải phóng nhiều dân tộc đang phải chịu cảnh lầm than là một đội quân Chính Nghĩa - Quân Ta. Điều này là đúng - nhưng mà cũng còn .. Tuỳ Thời Điểm. Khi Họ chiến đấu cho chính nghĩa, vì chính nghĩa thì Họ là đội quân Chính Nghĩa - quân Mình. Khi vẫn là Họ nhưng lại chiến đấu vì những động cơ, mục tiêu Phi Nghĩa thì Họ không thể là .. Quân Ta được nữa rồi. 
Trước khi bắt đầu cuộc chiến tranh Vệ Quốc Chính Nghĩa vào năm 1941 thì Mùa Đông năm 1939 - 1940 Hồng quân Liên Xô đã đưa quân xâm lược Phần Lan và buộc quân dân Phần Lan phải bắt đầu một cuộc chiến tranh Vệ Quốc kéo dài ... 100 ngày. 
Trước đó 2 tháng vào ngày 17 tháng 9 năm 1939, sau khi Đức xâm chiếm Ba Lan từ phía Tây thì Hồng quân Liên Xô cũng đã vượt biên giới tấn công phần Đông Ba Lan với danh nghĩa thu hồi lại Tây Ukraine và Tây Belarus (bị Ba Lan đánh chiếm năm 1921) theo như một Thoả ước phân chia bí mật với Đức Quốc Xã. 
 Nghị định thư được cho là bí mật của Hiệp ước Molotov–Ribbentrop ký với Đức Quốc Xã này quy định các nước Phần Lan, Estonia, Latvia, Litva và Bessarabia thuộc vùng ảnh hưởng của Liên Xô cùng với việc thu hồi lại Tây Ukraine và Tây Belarus.
Sau khi Đức và Liên Xô tấn công Ba Lan thì vào ngày 28 tháng 9 năm 1939, Hai bên đã ký kết Hiệp ước hữu nghị về biên giới. Sau Hiệp ước này, Liên Xô đã sáp nhập các nước Baltic (Estonia, Latvia, Litva), vùng Bessarabia và Bắc Bukovina, và một phần của Phần Lan vào lãnh thổ của mình. 
Nhiều năm sau khi Thế Chiến II kết thúc, để bảo vệ Vùng Ảnh Hưởng cũng như Ý Thức Hệ của Mình - Hồng quân Liên Xô cũng đã nhiều lần triển khai quân đội & sử dụng vũ lực ở một loạt các Quốc Gia như: Đông Đức năm 1953, Hungary năm 1956, Tiệp Khắc năm 1968, Ai Cập năm 1970, Afghanistan năm 1979 
...
Sự thật nó đúng là như vậy dù Phe Ta có thích hay là không. Rõ ràng là cái ranh giới giữa Chính Nghĩa và Phi Nghĩa nó cũng rất mong manh. Vừa mới đó là Địch Quân - nhoáng một cái đã trở thành Quân Ta, .. Phe của Mình. 
Thế Giới vốn dĩ vẫn vận hành trong sự tương đối và vô thường như vậy đấy. Nếu chúng ta cứ mãi chấp giữ những quan kiến, những lề thói xưa cũ trong một thế giới luôn đổi thay thì có lẽ chúng ta không ổn cho lắm .. rồi.
Hãy nhớ, .. Quân Ta không có nghĩa lúc nào cũng là Quân Mình đâu nhé.

Bính Ngọ Niên
Ngày 10 tháng 5
*Ảnh: Net

Thứ Bảy, 9 tháng 5, 2026

Trận Stalingrad

  “ không lùi một bước ” 
- J.Stalin -

NGÀY CHIẾN THẮNG
Ngày 9/5/1945, khi lá cờ đỏ Chiến Thắng phấp phới trên tòa nhà Quốc Hội Đức - đánh dấu sự kết thúc cuộc Chiến Tranh Vệ Quốc vĩ đại của Quân và Dân Liên Xô và định trước kết cục của Thế Chiến II – cuộc chiến tranh tàn khốc nhất, đổ máu nhiều nhất và khủng khiếp nhất trong lịch sử nhân loại. Với Chiến Tranh Thế Giới Thứ Hai, nhân loại đã phải trả một cái giá vô cùng to lớn cho chiến thắng trong cuộc chiến chống chủ nghĩa quốc xã. 72 quốc gia đã bị cuốn vào cuộc chiến tranh, nó đã cướp đi sinh mạng của hơn 55 triệu người, trong đó 27 triệu là công dân Xô Viết và gây ra sự tàn phá, thiệt hại khổng lồ về vật chất. Các trận đánh có tính chất quyết định đã diễn ra trên mặt trận Xô-Đức: Trận đánh ngoại ô Moskva (tháng 12 năm 1941 – tháng 1 năm 1942), Trận chiến ở Stalingrad (tháng 11 năm 1942 – tháng 2 năm 1943) và cuối cùng là Trận chiến trên vòng cung Kursk (tháng 7 – tháng 8 năm 1943). Hàng trăm ngàn chiến sỹ và sỹ quan Xô viết đã hy sinh trên các chiến trường. Ngay cả những đối tác phương Tây cũng không thể không công nhận thực tế hiển nhiên này.

“Chính quân đội Nga đã thọc vào tận gan ruột cỗ máy chiến tranh của Đức” 

- winston Churchill –

 

TRẬN STALINGRAD
Trận chiến ở Stalingrad cho đến nay vẫn được nhắc tới là trận đánh khốc liệt nhất trong Thế Chiến II và cũng là trận chiến đẫm máu nhất trong lịch sử chiến tranh thế giới với tổng số thương vong của hai phía lên tới gần 2,5 triệu quân. Đây cũng là trận đánh trong đô thị lớn nhất cũng như tổn thất lớn nhất trong lịch sử quân sự. Trận Stalingrad kéo dài từ tháng 7/1942 đến tháng 2/1943 là một bước ngoặt quan trọng và bước đầu làm xoay chuyển cục diện của Thế Chiến II. Trận đánh chia làm 2 giai đoạn:  phòng ngự (từ tháng 7/1942 - 18/11/1942) và phản công (từ 19/11/1942 - 2/2/1943) với nhiều chiến dịch của cả hai phía. 

1, Bối Cảnh
Sau cuộc phản công của Hồng quân trong trận chiến ở ngoại ô Moskva đẩy lùi quân Đức ra khỏi vùng ngoại vi Thủ Đô thì đến mùa xuân năm 1942, cơ bản quân Đức đã chặn được đà phản công và ổn định mặt trận tại phòng tuyến mới kéo dài từ Leningrad ở phía Bắc đến thành phố Rostov ở phía Nam. 
Ở phía Nam, Đức đã kiểm soát phần lớn lãnh thổ Ukraina và bán đảo Krym mặc dù Sevastopol và một phần bán đảo Kerch vẫn nằm trong tay Hồng quân.
Lúc này Bộ chỉ huy Đức nhận thấy rằng không thể đánh thắng bằng một cuộc chiến chớp nhoáng. Họ phải tính đến chiến lược đánh tiêu hao với mục tiêu chiếm những nguồn cung cấp quan trọng của Liên Xô - lúa mì, điện, than, và đặc biệt là dầu mỏ. Trung tâm khai thác dầu mỏ lớn nhất của Liên Xô nằm ở phía Nam thuộc vùng Baku và dãy núi Kavkaz. 
Theo kế hoạch ban đầu của chiến dịch tấn công mùa hè nhằm vào miền Tây Nam mang mật danh Fall Blau"Chiến Dịch Blau" do Cụm Tập đoàn quân Nam đảm nhiệm thì Stalingrad chỉ là mục tiêu phụ, cần phải kiểm soát để cắt đứt giao thông đường thủy trên sông Volga (đường tiếp tế nhiên liệu chính của Liên Xô từ vùng Caucasus ) và bảo vệ sườn phía Đông cho Tập đoàn quân số 6 của Tướng Paulus khi họ tiến về phía các mỏ dầu ở Kavkaz.
Tuy nhiên Hitler lại can thiệp vào kế hoạch hành quân, ông ta chia Cụm Nam thành hai phần: Cụm A & B. Cụm A, do Siegmund Wilhelm List chỉ huy, sẽ tiến công vào khu vực Kavkaz đúng như kế hoạch ban đầu cùng với các tập đoàn quân số 11, 17, tập đoàn thiết giáp số 1, số 4 và tập đoàn quân số 8 của Ý ( sau được điều bổ xung sang Cụm B ). Cụm B, bao gồm các tập đoàn quân số 6 và số 2 của Đức, số 2 của Hungary, Tập đoàn thiết giáp số 4 của Hermann Hoth, có nhiệm vụ tiến về phía Đông đến sông Volga và thành phố Stalingrad. Chỉ huy Cụm B là Thống chế Fedor von Bock, sau được thay bằng Tướng Maximilian von Weichs. Cả hai cụm được yểm trợ bằng tập đoàn không quân số 4 của thống chế  Wolfram von Richthofen.
Như vậy, Hitler đã làm phân tán lực lượng tấn công - vi phạm nguyên tắc tập trung binh lực tối kỵ trong Binh Lược. Quân Đức tiến công đồng thời theo hai hướng ngày càng xa rời nhau, đây là tiền đề cho việc bị Hồng quân bao vây tiêu diệt về sau. Có thể do bị "ám ảnh" với việc phải chiếm Stalingrad vì nó mang tên của nhà lãnh đạo Liên Xô - Joseph Stalin như một biểu tượng tinh thần nên Hitler đã bỏ qua sự cảnh báo của các tướng lĩnh có kinh nghiệm. Đồng thời, trong việc lập kế hoạch chiến cuộc hè 1942, Bộ Tư lệnh Tối cao Đức đã phạm sai lầm khi đánh giá thấp đối thủ. Người Đức tỏ ra rất tự tin về việc chế ngự được Hồng quân vì bây giờ mùa đông khắc nghiệt không còn ảnh hưởng nhiều đến sức chiến đấu của họ nữa.
Chiến dịch Blau mở màn vào ngày 28 tháng 6 năm 1942 với khởi đầu rất thuận lợi. Hồng quân đã vài lần cố gắng thành lập một phòng tuyến để ngăn đà tiến công của quân Đức, tuy nhiên tất cả đều thất bại bởi các đòn đánh bọc sườn của đối phương nên họ phải tháo lui về phía Đông. Quân Đức đã hai lần hợp vây và tiêu diệt hai khối lớn quân Liên Xô: một lần ở Tây Bắc Kharkov và lần thứ hai ở khu vực gần Millerovo, Rostov.
Quân Đức đã tiến đến bờ sông Don, phá vỡ phòng tuyến Sông Don của Hồng quân và loại bỏ được mối nguy hiểm bị đánh vào sườn từ bàn đạp này. Đến cuối tháng 7, quân Đức đã dồn Hồng quân về bờ bên kia của sông Don. Ở tại khu vực này thì sông Don và sông Volga chỉ cách nhau 40 km, và quân Đức bắt đầu bố trí các kho tàng ở bên bờ Tây - những kho tàng này sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc tiếp liệu. Lúc này Tập đoàn quân số 6 chỉ còn cách Stalingrad có vài chục cây số và tập đoàn thiết giáp số 4 cũng chuyển hướng quay lên phía Bắc để hỗ trợ cho cánh quân này.
Ở phía Nam, Cụm A đã tiến sâu vào khu vực Kavkaz nhưng đà tiến quân bị chậm lại nhanh chóng do các tuyến hậu cần và tiếp vận đã kéo quá dài. Hai tập đoàn quân tại đây nằm ở vị trí quá xa nhau và vì vậy khó có thể ứng cứu nhau kịp thời. Quân Đức, sau những thắng lợi ban đầu tại vùng đồng bằng, khi bắt đầu tiếp cận dãy núi lớn Kavkaz đã mất đà tiến công, dần dần bế tắc trên hướng chính và bị chặn lại tại sông Terech và các đèo ngang của dãy Kavkaz. Đức đã không thấy hết những khó khăn của việc tác chiến vùng núi - nơi chỉ một lượng nhỏ quân phòng thủ có thể chống lại rất đông quân tấn công và các lực lượng cơ động không thể phát huy hết tác dụng. 
Ngược lại, tại hướng tấn công thứ yếu của Cụm B thì tình hình lại rất thuận lợi. Dường như không gì cản nổi cuộc tiến công cơ động của Đức về phía sông Volga. Bộ chỉ huy Đức liền chuyển hướng lấy cụm B làm hướng tấn công chính và điều các đơn vị từ cụm A sang với mục tiêu chính bây giờ là thành phố Stalingrad.
Từ chỗ ban đầu chỉ có 13 sư đoàn với khoảng 27 vạn quân, đến cuối tháng 9 năm 1942 tại hướng Stalingrad đã có 80 sư đoàn quân Đức và đồng minh (Hungary, Ý, Rumani), chiếm tỷ trọng lớn trên toàn chiến tuyến Xô - Đức. Phía Đức có 1.260 xe tăng, 17.000 pháo và cối, 1.640 máy bay. Theo kế hoạch thì tập đoàn quân số 6 tấn công tại mặt bắc và tây bắc Stalingrad còn tập đoàn xe tăng số 4 tại phía nam và tây nam. Sau khi đột phá đến bờ sông Volga hai cánh quân này sẽ đánh dọc theo bờ sông tiến ngược chiều nhau và hợp vây quân phòng thủ.
Trong lúc đó, Hồng quân bắt đầu xúc tiến việc phòng thủ thành phố với việc điều động các lực lượng dự bị chiến lược là tập đoàn quân 62, 63, 64, tập đoàn quân cận vệ số 1 và các tập đoàn quân xe tăng số 1, số 4 cùng rất nhiều các đơn vị khác. 
Nơi đây thành khu vực tập trung binh lực lớn nhất của cả hai bên có quy mô vượt trận Moskva năm 1941. 
Thượng tướng Yeryomenko được bổ nhiệm vị trí Tư lệnh Phương diện quân Tây Nam cùng với chính ủy Khrushchyov với nhiệm vụ phải bảo vệ bằng được Stalingrad. Ranh giới phía Đông của Stalingrad chính là dòng sông Volga rộng lớn, và ở bên kia sông Hồng quân cũng bố trí thêm tập đoàn quân 62 do Trung tướng V. I. Chuikov chỉ huy.

2, Giai Đoạn Phòng Ngự 
Trận chiến Stalingrad được mở màn bằng một cuộc oanh kích dữ dội của Tập đoàn Không quân số 4 biến Stalingrad thành đống đổ nát, gây thiệt hại lớn về nhân mạng. Trước đó, quân Đức đã tiến hành không kích các vị trí trên sông Volga - nhằm phá hoại khả năng tiếp vận đường thủy quan trọng cho Stalingrad. Tiếp đó là những loạt pháo kích dọn đường cho lục quân tiến lên. Nhờ ưu thế về lực lượng phương tiện chiến tranh cũng như trình độ tác chiến, đến giữa tháng 8/1942, quân phát xít đã tiến được vào nội đô Stalingrad. Tập đoàn tăng thiết giáp số 4 gác vòng ngoài, còn tập đoàn quân số 6 trực tiếp cận chiến sâu trong thành phố và đã chiếm được 90% diện tích, đẩy lùi Hồng quân về sát bờ tây sông Volga. Tuy nhiên, Đức vẫn không tài nào tiêu diệt được các ổ đề kháng còn lại của Hồng quân. Trước sức vây ép của quân Đức và thương vong quá lớn, Tướng Chuikov chỉ huy Tập đoàn quân 62 từng xin phép rút lui qua sông Volga nhằm bảo toàn lực lượng nhưng ông đã được cấp trên ra lệnh tử thủ, giữ vững “nút sống” này bằng mọi giá. Vào ngày 27/7 - Lãnh tụ Liên Xô là Nguyên soái Stalin đã ra mệnh lệnh nổi tiếng “không lùi một bước”. Quân dân Liên Xô ở chiến trường Stalingrad đã chiến đấu đến hơi thở cuối cùng với tinh thần “không lùi dù chỉ một bước”. 
Không quân Xô Viết lúc này hoàn toàn bị không quân Đức áp đảo. Trong các ngày 23-31 tháng 8, Hồng quân đã mất đến 201 máy bay, và mặc dù họ nhận được 100 máy bay trong tháng đó nhưng số máy bay còn sử dụng được chỉ là 192 chiếc, trong số đó 57 chiếc là máy bay tiêm kích.
Cuối tháng 8, quân Đức đã tiến tới bờ sông Volga tại khu vực phía Bắc Stalingrad. Tiếp đó là một nỗ lực nhằm tiến tới bờ sông ở phía Nam thành phố. Tới ngày 1 tháng 9, Hồng quân chỉ còn có thể tăng viện cho các đơn vị cố thủ trong nội thành bằng cách mạo hiểm băng qua sông Volga dưới làn mưa bom đạn dày đặc.
Để cải thiện thêm khả năng bám trụ của binh sĩ trước sự khắc nghiệt của cuộc chiến, Liên Xô đã đẩy mạnh công tác Đảng, công tác tư tưởng và hàng loạt biện pháp thắt chặt kỷ luật chiến trường, nâng cao tinh thần chiến đấu của binh sĩ. Các “đội chặn” gồm quân NKVD hoặc đơn vị thường trực được bố trí phía sau các đơn vị Hồng quân để ngăn đào ngũ và tụt lại, đôi khi xử bắn những kẻ đào ngũ. Trong trận chiến, Tập đoàn quân 62 có số vụ bắt giữ và xử bắn nhiều nhất: tổng cộng 203 trường hợp, trong đó 49 người bị xử bắn, 139 người bị đưa vào các đại đội hay tiểu đoàn trừng giới. Ở giai đoạn đầu, trình độ tác chiến của Hồng quân kém hơn, nhưng bù lại là tinh thần chiến đấu rất kiên cường. Trong khi đó lính Đức cũng quyết chiến đến cùng. Họ cũng cần Stalingrad làm nơi trú ngụ trước mùa Đông lạnh giá sắp tới. Công bằng mà nói, lính Đức rất thiện chiến và dũng mãnh (thậm chí khi bị đánh thiệt hại nặng vẫn duy trì được ý thức kỷ luật cao). Ngay cả khi quân Đức đã tan rã từng mảng, vẫn có nhiều đơn vị lẻ tẻ kháng cự một cách dai dẳng.
Đối diện với tập đoàn quân xe tăng số 4 của Đức ở hướng Nam và Tây Nam Stalingrad
là Phương diện quân Đông Nam do tướng Yeryomenko chỉ huy gồm các tập đoàn quân 64 ở trung tâm phòng ngự, tập đoàn quân 57, 51 và tập đoàn quân cận vệ số 1. Họ đã phòng thủ và phản công mãnh liệt khiến cho quân Đức bị chặn lại tại tuyến phòng ngự vành đai thành phố cho đến ngày cuối cùng cũng không thể đột phá được tới sông Volga.
Chiến sự diễn ra ác liệt, căng thẳng mang tính quyết định nhất là tại cánh Bắc và Tây Bắc nơi đối đầu với Tập đoàn quân số 6 của Đức. Để phòng thủ hướng này Liên Xô thành lập phương diện quân Stalingrad, tư lệnh đầu tiên là nguyên soái Timoshenko, từ ngày 23 tháng 7 là trung tướng Vasily Gordov và sau đó là trung tướng Rokossovsky (sau đổi tên thành phương diện quân Sông Don). Trong đó tập đoàn quân 62 là lực lượng chịu áp lực trực tiếp mạnh nhất của quân Đức. Tại đây Tập đoàn quân số 6 Đức cố gắng đánh chia cắt tập đoàn quân 62 Xô Viết ra khỏi khối quân còn lại hòng tiêu diệt nhóm quân này. Khi rút vào nội đô, Tập đoàn quân 62 chỉ còn 90 xe tăng, 700 súng cối và khoảng 20.000 quân. Số xe tăng được dùng như các điểm cố thủ cố định. Các trận đánh trong nội đô diễn ra cực kỳ ác liệt và đẫm máu. Cuộc chiến này điển hình của tính chất không khoan nhượng khi cả hai bên không chấp nhận bắt tù binh.
Quân Đức giỏi hiệp đồng binh chủng và đánh lớn trên địa bàn rộng với các vũ khí hạng nặng. Tuy nhiên khi quân hai bên đan cài vào nhau thì phi cơ, xe tăng, và trọng pháo không thể phát huy được hiệu quả. Các đoàn xe tăng dũng mãnh trở nên vô tác dụng trong những đường phố chật chội với hàng đống gạch đá ngổn ngang có khi cao đến 8 mét. Chiến tranh trong đô thị mang tính phi chính quy cao, đòi hỏi sự quả cảm, kiên cường và mưu trí đặc biệt. Trong giai đoạn cầm cự, Hồng quân đã triệt để thực hiện cận chiến đường phố, giành giật từng góc phố, căn nhà, căn hầm .. với chiến thuật "đánh áp sát" mà tướng Chuikov gọi là "ôm" lấy quân Đức. Hồng quân bám trụ vững chắc trong các tòa nhà nằm tại các vị trí chiến lược như các quảng trường và các con đường quan trọng. Nhiều lúc xảy ra tình thế “kẹp bánh mì”, trong đó quân Đức chiếm giữ tầng 2, còn Hồng quân ở tầng 3 và tầng 1. Hai bên còn quần thảo dưới hệ thống cống ngầm chằng chịt của thành phố. Trong thời kỳ này nổi lên lối đánh bằng súng bắn tỉa. Trong các trận “so găng” thì các tay súng thiện xạ phía Liên Xô có vẻ áp đảo hơn.
Vasily Grigoryevich Zaytsev (bên trái ảnh) là một tay bắn tỉa cự phách của Hồng quân trong chiến tranh vệ quốc. Trong trận Stalingrad, từ ngày 10/11 đến ngày 17/12/1942, tay bắn tỉa thuộc trung đoàn lính bắn tỉa 1047, sư đoàn lính bắn tỉa 284 bắn hạ 225 lính, sĩ quan Đức Quốc xã và quân đội các nước thuộc phe Trục, bao gồm 11 tay súng bắn tỉa của đối phương

Để tiến được từng thước đất, lính Đức đã phải đổ rất nhiều máu. Một sĩ quan Đức đã viết: “Các con phố không còn được đo bằng mét nữa mà bằng các xác chết… Stalingrad không còn là một thành phố mà đã thành một đám mây bốc cháy… một lò lửa khổng lồ… Đến loài vật còn phải chạy trốn khỏi địa ngục này, chỉ có con người là trụ lại được.”
Ngày 14 tháng 9, Đức mở đợt tấn công nhằm “đánh úp” để chiếm thành phố. Sư đoàn bộ binh 295 thuộc Quân đoàn 51 đánh lên cao điểm Mamayev Kurgan, Sư đoàn 71 đánh ga đường sắt trung tâm và bến đổ bộ trên sông Volga, còn Quân đoàn tăng 48 tiến công về phía nam sông Tsaritsa. Các mũi tiến công đạt được kết quả ban đầu nhưng đã chững lại trước viện quân là Sư đoàn bộ binh cận vệ 13 của Trung tướng Rodimtsev vừa gấp rút vượt sông vào tăng cường cho lực lượng phòng thủ. Các chiến dịch của Hồng quân bị đe dọa nặng nề bởi lực lượng không quân Đức. Ngày 18 tháng 9, Tập đoàn quân cận vệ số 1 và Tập đoàn quân số 24 mở đợt tấn công vào Quân đoàn bộ binh số 7 của Đức tại Kotluban. Máy bay ném bom Stuka của Quân đoàn không quân số 8 đã oanh kích và đẩy lui được họ. Đức khẳng định rằng 41 trong số 106 xe tăng Liên Xô đã bị phá hủy, trong khi đó các máy bay tiêm kích Bf 109 đi theo hộ tống đã bắn hạ 77 máy bay Liên Xô. Tập đoàn quân 62 và 64 buộc phải rút lui và bị ép chặt vào thành phố lúc này đã biến thành một pháo đài khổng lồ. Giữa những đống gạch vụn của một thành phố đổ nát, các tập đoàn quân số 62, 64 và sư đoàn cận vệ số 13 tiếp tục củng cố các vị trí phòng ngự của họ trong từng ngôi nhà, từng công xưởng. 
Đợt tấn công dữ dội nhất, diễn ra vào ngày 14 tháng 10 khi những trận pháo kích và oanh tạc cực kỳ dữ dội đã mở đường cho mũi chủ công do Sư đoàn thiết giáp 14 và Sư đoàn bộ binh 305 dẫn đầu đánh vào hướng nhà máy máy kéo, trong khi một mũi khác do Sư đoàn thiết giáp 24 đánh vào khu vực phía nam của tổ hợp công nghiệp gồm 3 nhà máy này (Nhà máy thép Tháng Mười Đỏ, Nhà máy vũ khí Barrikady và Nhà máy máy kéo Stalingrad). Sư đoàn súng trường cận vệ số 37 do Thiếu tướng Zholudev chỉ huy đã bị nghiền nát và đến chiều, mũi xung kích đi đầu đã tới Nhà máy Máy kéo rồi áp sát sông Volga, chẻ đôi Tập đoàn quân 62. Hồng quân đã đưa một lực lượng đáng kể hơn 2.000 quân vào trận ở khu Nhà máy Đỏ Tháng Mười. Chiến sự tiếp tục bùng nổ bên trong Nhà máy Barrikady cho đến cuối tháng 10 và sang tháng 11, trọng tâm giao tranh tập trung quanh một mảnh đất nhỏ phía sau Nhà máy Barrikady, nơi tàn quân của Sư đoàn súng trường 138 do Đại tá Lyudnikov chỉ huy đã đẩy lùi mọi đợt xung phong dữ dội của quân Đức và trở thành biểu tượng cho thế trận phòng thủ kiên cường ở Stalingrad. 
Không quân Đức vẫn chiếm ưu thế trên không cho đến tận đầu tháng 11 năm 1942 và sức kháng cự của lực lượng phòng không và không quân Xô Viết gần như là không đáng kể. Tập đoàn quân số 62 đã bị cắt làm đôi, do hệ thống tiếp vận qua sông Volga bị không quân Đức phá hoại nghiêm trọng và gần như tê liệt. Lúc này, Hồng quân đã bị dồn vào một dải đất dài 910 m dọc bờ sông Volga. Các đội bay Stuka của Đức đã thực thi 1.208 lượt ném bom với quyết tâm thanh toán ổ kháng cự cuối cùng này. Nhưng 47 nghìn binh sĩ còn lại của Tập đoàn quân 62 vẫn đứng vững.
Xác một chiếc MesserschmittBf 109, xương sống của lực lượng tiêm kích Không quân Đức trong Thế Chiến II. Tổng cộng 160 máy bay Đức bị tiêu diệt, 328 chiếc bị hư hỏng nặng nề trong trận đánh đẫm máu này. Không quân Đức tổn thất gần 1.000 phi đoàn ném bom nhiều kinh nghiệm

Tình thế của không quân Đức dần trở nên tồi tệ vào giữa tháng 11 vì một lượng lớn máy bay thuộc Tập đoàn Không quân số 4 bị điều tới Bắc Phi khi quân Anh-Mỹ đổ bộ.
Sau ba tháng tiến quân chậm chạp, quân Đức cuối cùng cũng tới được bờ sông, chiếm khoảng 90% thành phố đổ nát và chia cắt lực lượng Liên Xô còn lại thành hai túi phòng ngự hẹp. Giao tranh vẫn tiếp diễn ác liệt, đặc biệt trên các sườn đồi Mamayev Kurgan và trong khu nhà máy ở phía bắc thành phố. Từ 21 tháng 8 đến 20 tháng 11, Tập đoàn quân số 6 của Đức tổn thất 60.548 người, gồm 12.782 tử trận, 45.545 bị thương và 2.221 mất tích.

3, Giai Đoạn Phản Công
Trong khi Đức đang sa lầy trong việc chiếm thành phố thì quân đội Xô Viết đã lên kế hoạch sẵn sàng cho một cuộc phản công. Đại tướng Zhukov và Đại tướng Vasilyevsky - những người phụ trách việc hoạch định chiến lược bắt đầu tập trung một lượng lớn binh lực ở khu vực thảo nguyên phía Bắc và phía Nam thành phố. Điểm yếu tại hai cạnh sườn của quân Đức đã được khai thác triệt để vì Hồng quân chủ trương công kích các đơn vị quân chư hầu yếu kém và né tránh quân Đức những khi có cơ hội - giống như những gì người Anh đã làm tại Bắc Phi. 
Kế hoạch của Hồng quân là cố gắng kiềm chế và giữ chân lực lượng Đức ở chính diện trong thành phố đồng thời mở các đòn vu hồi vào hai cánh vốn đã bị kéo dài và bố phòng yếu kém rồi sau cùng khóa chặt vòng vây đối với nhóm quân trong nội đô Stalingrad. 
Chiến dịch phản công mang mật danh "Sao Thiên Vương"  được phát động đồng thời với Chiến dịch Sao Hỏa nhằm vào Cụm Tập đoàn quân Trung tâm. Và lần này, cũng như mùa đông 1941 trong trận phản công tại Moskva, các lực lượng nòng cốt được điều về Stalingrad để phản công là các sư đoàn mới tinh, trang bị tốt của các Quân khu Siberia và Viễn Đông. Tổng binh lực được huy động cho chiến dịch phản công lên tới 1,1 triệu quân và 900 xe tăng, đối diện là lực lượng Đức và chư hầu với hơn 1 triệu quân. Tuy binh lực của hai bên xấp xỉ nhau, nhưng Hồng Quân có trong tay lợi thế lớn là yếu tố bất ngờ, cho phép họ tập trung binh lực áp đảo tại những mũi nhọn đột phá, trong khi quân Đức thì đang bị dàn mỏng. 
Sáng sớm ngày 19/11/1942, hàng ngàn khẩu pháo Xô viết bắn cấp tập vào các vị trí của quân Đức Quốc xã, mở màn cuộc phản công. Sử dụng một lực lượng lớn cơ giới và xe tăng, Hồng quân đã đột kích nhanh và mạnh, chọc thủng vùng sườn quân Đức đang bị căng mỏng và chỉ được bảo vệ bởi lực lượng quân chư hầu Romania và Hungary, hình thành thế bao vây quân Đức. Phương diện quân Tây Nam của trung tướng Vatutin gồm tập đoàn quân xe tăng số 5, tập đoàn quân cận vệ số 1 và tập đoàn quân số 21 (18 sư đoàn bộ binh, 8 lữ đoàn xe tăng, hai lữ đoàn bộ binh cơ giới, 6 sư đoàn kỵ binh & 1 lữ đoàn pháo chống tăng từ bàn đạp Seraphimovich đánh vào sườn phía Bắc của tập đoàn quân số 6 Đức, mục tiêu là khu vực bố phòng của tập đoàn quân Rumani số 3. 
Ngày 20 tại cánh nam Stalingrad, phương diện quân Stalingrad của thượng tướng Yeryomenko tấn công vào sườn phải tập đoàn quân xe tăng số 4 Đức, mục tiêu là vị trí bố phòng của tập đoàn quân Rumani số 4. 
Sau khi chọc thủng tuyến phòng ngự yếu kém của đối phương các đơn vị cơ động của hai phương diện quân Xô Viết với hai mũi vu hồi, thọc sâu bằng xe tăng kết hợp cùng bộ binh cơ giới tốc độ rất cao tiến tới hợp vây một bộ phận của tập đoàn quân xe tăng số 4 và toàn bộ tập đoàn quân số 6 Đức. Tổng cộng khoảng 33 vạn quân tại khu vực Kalach 30 km về phía tây Stalingrad. 
Ngay sau khi bị bao vây, các lãnh đạo quân sự Đức đã họp bàn và thúc giục mở phá vây để rút quân về một phòng tuyến mới trên bờ Tây sông Don. Nhưng Hitler lại ra lệnh không được phép đầu hàng hoặc phá vây mà phải tiếp tục chiến đấu trong khi một lực lượng giải cứu được thành lập và không quân sẽ thiết lập cầu hàng không để tiếp tế lương thực, đạn dược. Quyết định của Hitler cũng một phần xuất phát từ toan tính chiến lược chứ không hẳn chỉ là liều lĩnh. Để bao vây quân Đức tại Stalingrad, Hồng quân cũng phải tập trung về đây hơn 400.000 quân. Nếu quân Đức đầu hàng hoặc tháo lui sớm, Hồng quân sẽ rút lực lượng này sang tấn công về phía Đông chiếm Rostov, nếu họ thành công thì không chỉ Tập đoàn quân 6 mà cả Cụm A và B với hơn 500 ngàn quân đang chiến đấu ở vùng Kavkaz cũng sẽ bị cắt đường tiếp tế và bị tiêu diệt, thất bại khi đó sẽ còn lớn hơn rất nhiều. Nói cách khác, Tập đoàn quân 6 phải chấp nhận hy sinh để các lực lượng khác của Đức có thời gian rút khỏi miền nam nước Nga càng nhanh càng tốt. Sau này, Tướng Paulus xác nhận Bộ chỉ huy tối cao Đức yêu cầu ông ta cố thủ để giữ chân các binh đoàn chủ lực Liên Xô xung quanh Stalingrad nhằm yểm hộ cho cuộc rút quân của Cụm A khỏi khu vực Bắc Kavkaz.
Lực lượng giải cứu được thành lập dưới quyền chỉ huy của Thống chế Manstein - một viên tướng có tài thao lược hàng đầu trong quân đội Đức. Manstein xây dựng kế  hoạch “Bão Mùa Đông” với sự tham vấn đầy đủ của Tổng hành dinh Quốc trưởng. Mục tiêu là đột phá tiếp cận Tập đoàn quân 6 và mở một hành lang tiếp tế, tăng viện để Tập đoàn quân 6 có thể giữ chỗ đứng trên bờ Volga theo mệnh lệnh của Hitler. Tuy nhiên, Manstein hiểu rằng Tập đoàn quân 6 không thể sống sót qua mùa đông ở đó, nên ông chỉ thị bộ tham mưu soạn thêm một phương án phòng khi Hitler “tỉnh ngộ”.
Phương án thứ hai này bao gồm pha thoát vây tiếp theo của Tập đoàn quân 6 (nếu giai đoạn đầu thành công) và sáp nhập lại về Cụm Tập đoàn quân. Kế hoạch thứ hai được đặt tên là Chiến dịch “Sấm Sét”. Như Zhukov đã dự liệu, “Bão Mùa Đông” ban đầu định đánh hai mũi: một mũi xuất phát từ khu vực Kotelnikovo ở phía nam, cách Tập đoàn quân 6 khoảng 160 kilômét. Mũi kia khởi từ mặt trận sông Chir phía tây sông Don, chỉ hơn 60 kilômét tính từ rìa “cái chảo” (Kessel). Tuy nhiên, các đòn công kích liên tục từ Tập đoàn quân xe tăng 5 của Romanenko dọc sông Chir đã loại bỏ khả năng xuất phát từ hướng này.
Đầu tháng 12, 3 sư đoàn thiết giáp, 2 sư đoàn bộ binh, 3 sư đoàn lính dù thuộc tập đoàn quân tăng thiết giáp số 4 do tướng Hermann Hoth chỉ huy đã được điều từ Kavkaz đến khu vực hạ lưu sông Don. Nhưng các đơn vị này dù đã cố hết sức vẫn đều bị Hồng quân đẩy lùi ra xa, cách Stalingrad ít nhất 100 cây số nên không có cách nào để cứu tập đoàn quân số 6 cả. Chỉ riêng có quân đoàn 48 là tiến sát Stalingrad nhất, cách 40 cây số. Các tướng lĩnh đã đề nghị phương án vượt sông Don ở khu vực đối diện Stalingrad nhưng Thống chế Manstein phản đối vì cho rằng làm như thế là vô cùng mạo hiểm và khó thực hiện. Ông quyết định chọn khu vực Kotelnikovo nằm ở phía Đông Nam sông Don làm bàn đạp tấn công Stalingrad. Ngày 10 tháng 12, tướng Hoth đưa tập đoàn quân thiết giáp số 4 vào trận. Quân đoàn 48 có nhiệm vụ vượt sông Don để phối hợp tác chiến với cánh quân của Hoth. Các đơn vị này đã gặp sự kháng cự ác liệt của thiết giáp và bộ binh Liên Xô do thượng tướng Yeryomenko chỉ huy. Quân Đức gần như bị chặn đứng, trong suốt 1 tuần lễ chỉ tiến lên chưa được 50 cây số. Nhưng đến ngày 17, sư đoàn bộ binh cơ giới số 23 đã tổ chức 1 đợt tấn công quyết liệt và chiếm được 2 cây cầu bắc qua sông Aksai-Esaulov. Như vậy trở ngại tự nhiên lớn nhất là con sông đã bị người Đức khắc phục và giờ đây khoảng cách giữa 2 tập đoàn quân số 6 và số 4 của Đức chỉ còn 70 cây số. 
Tuy nhiên, vào cùng thời điểm quân Đức tổ chức giải vây, Hồng quân đã mở chiến dịch Sao Thổ vào ngày 11 tháng 12 nhằm tiêu diệt các lực lượng Ý, Hungary, Rumani và Đức dọc sông Don. Mục tiêu ban đầu là nhằm vào tập đoàn quân số 8 của Ý với quân Rumani ở cánh phải và lực lượng Hungary bên cánh trái. Sau 11 ngày giao tranh, Tập đoàn quân số 8 Ý bị xóa sổ và đã tạo một lỗ hổng lớn trên tuyến phòng thủ của người Đức - mở đường cho Hồng quân tiến về Rostov. Nếu chiếm được Rostov, Hồng quân sẽ kiểm soát toàn bộ miền Nam nước Nga, chia cắt các lực lượng của quân Đức. Manstein buộc phải rút sư đoàn xe tăng số 6 của tướng Hoth để điều lên hướng Tây Bắc cản đòn tấn công của Hồng quân. Đây là lực lượng hậu bị cho cuộc tấn công của Hoth với đầy đủ quân số và vũ khí nên quyết định này đã ảnh hưởng rất nhiều đến nỗ lực giải vây. Tuy không còn lực lượng hậu bị, tướng Hoth vẫn cho tiến quân để giải cứu quân của Paulus. Đến ngày 18 tháng 12, quân Đức đã áp sát trong vòng 48 km tính từ các vị trí của Tập đoàn quân 6. Hitler đã từ chối cho tập đoàn quân số 6 đánh ra hướng tiến của tập đoàn quân thiết giáp số 4 bất chấp thỉnh cầu của Manstein. Một số sĩ quan Đức đề nghị Paulus bất chấp lệnh Hitler “tử thủ” để tự phá vây khỏi Stalingrad. Paulus từ chối, vì lo các đòn công kích của Hồng quân vào sườn Cụm Tập đoàn quân Don và Cụm B dẫn đến Cụm A ở Kavkaz bị tiêu diệt.
Ngày 20 tháng 12, quân đoàn tăng thiết giáp số 57 của Đức tiếp tục tấn công giải vây cho tập đoàn quân 6. Nhưng hỏa lực cực mạnh của Hồng quân đã ngăn không cho quân Đức tiến về phía trước. Hai ngày tiếp theo, ở khu vực dọc tuyến đường sắt đã diễn ra những trận đánh vô cùng ác liệt, cả hai bên đều chịu những tổn thất nặng nề. Tuy nhiên, sau mỗi tổn thất, Hồng quân lại được bổ sung lực lượng kịp thời trong khi quân Đức thì không thể. Điều này khiến quân Đức dần dần bị tiêu hao sinh lực. Trong suốt ngày 24 tháng 12, Hồng quân nỗ lực vượt bờ Nam sông Aksai-Esaulov nhưng không thành. Pháo chống tăng 88 li của Đức đã ngăn chặn hiệu quả xe tăng Liên Xô và bộ binh dù có được sự yểm trợ của không quân và pháo binh cũng không thể chiếm được cây cầu đường sắt. Ngày 25 tháng 12, dưới sự yểm trợ của 50 xe tăng - Hồng quân đã tiến qua bờ nam sông Aksai-Eseulov chiếm cây cầu đường sắt ở gần ga Krugliakovo. Xe tăng Liên Xô theo cây cầu này đã ào ạt vượt sông, đè bẹp mọi sự kháng cự của quân Đức. Quân đoàn tăng thiết giáp số 57 đã bị xóa sổ hoàn toàn. Như vậy là kế hoạch đột phá vòng vây của Cụm tập đoàn quân Sông Don do Thống chế Manstein chỉ huy nhằm giải vây cho Paulus đã hoàn toàn phá sản. Số phận tập đoàn quân số 6 xem như đã an bài. Gần 300.000 lính Đức phải tìm chỗ trú ẩn giữa những đống gạch vụn và 2 vạn thương binh phải nằm trong các tòa nhà đổ nát. Quân Đức không có đủ lương thực, thuốc men, đạn dược nên sức chiến đấu ngày càng suy yếu.
Sau chiến dịch tấn công quy mô lớn ở khu vực sông Don, Hồng quân đã chiếm được 2 sân bay dã chiến của Đức nằm gần Stalingrad. Trước đây, từ 2 sân bay này, mỗi ngày quân Đức có khả năng thực hiện 3 chuyến không vận tiếp tế cho tập đoàn quân số 6. Giờ đây, việc tiếp tế từ sân bay dã chiến gần nhất đến Stalingrad cũng phải mất 2 đến 3 tiếng đồng hồ với điều kiện thời tiết khắc nghiệt mùa đông nên ngày càng khó khăn. 
Nhiệm vụ tiêu diệt lực lượng Đức bị vây được giao cho Phương diện quân Sông Don của Trung tướng Rokossovsky. Ông đã gửi thư kêu gọi đối phương đầu hàng nhưng bị khước từ. 
Từ 10/1 đến 2/2/1943, Hồng quân mở cuộc tấn công tiêu diệt 2 phần 3 lực lượng bị vây hãm và bắt sống số còn lại, bao gồm Tư lệnh Paulus và 24 viên tướng của Tập đoàn quân số 6. Hitler đã phong cho Paulus quân hàm Thống chế 
sau khi ông này khẩn khoản yêu cầu được đầu hàng. Hitler cho rằng Paulus sẽ chọn cái chết để bảo toàn danh dự vì nếu đầu hàng thì ông sẽ trở thành sĩ quan cao cấp nhất của Đức bị bắt làm tù binh. Tuy nhiên, Paulus vốn là người theo Công giáo vì vậy ông cực lực phản đối việc tự sát. Ngày 31 tháng 1 năm 1943, Paulus quyết định đầu hàng, đây là lần đầu tiên trong chiến dịch ông chống lại lệnh "tử thủ" của Hitler.
Người lính Nga vẫy cờ chiến thắng trên quảng trường ở Stalingrad. 

Trận Stalingrad kết thúc với thắng lợi hoàn toàn của Hồng quân Liên Xô được xem là bước ngoặt quyết định về chính trị, quân sự và tâm lý vì đây là lần đầu tiên quân đội vô địch của phát xít Đức bị đánh bại trong một trận đánh tiêu diệt lớn, với gần 1/4 quân số toàn chiến trường Xô-Đức bị tiêu diệt. Rất nhiều trong số những đơn vị bị tiêu diệt là quân tinh nhuệ, dày dạn kinh nghiệm chiến đấu. 
Cùng với những thắng lợi của quân Đồng Minh tại Tunisia, chiến thắng Stalingrad đã mang lại lợi thế và củng cố niềm tin cho toàn khối Đồng Minh.

9.5.2026
Nguồn Tổng Hợp
*Ảnh: Tổ hợp tượng đài "Mẹ Tổ quốc" khánh thành vào năm 1967 tại thành phố Volgograt ( Stalingrad cũ )





Thứ Năm, 7 tháng 5, 2026

Rằng xưa có gã từ quan ...

 Rằng xưa có gã từ quan
Lên non tìm động hoa vàng ngủ say
...





ĐỘNG HOA VÀNG
Rằng xưa có gã từ quan
Lên non tìm động hoa vàng ngủ say
...

Phạm Thiên Thư



Nhà thơ Phạm Thiên Thư(1940 - 2026) – người lữ khách cuối cùng của "Động Hoa Vàng", vị tu sĩ của những vần thơ đạo lãng mạn nhất thi đàn Việt Nam có tên thật là Phạm Kim Long sinh ra tại Hải Phòng trong một gia đình Đông y có nền văn hóa truyền thống. Từ miền Bắc, ông vào Sài Gòn ở tuổi thiếu niên, rồi gắn bó với đô thị này trong phần lớn đời sống và sáng tác.
Năm 1964, Phạm Thiên Thư vào chùa tu học, mang pháp danh Tuệ Không. 
Sau gần 10 năm tu hành, ông hoàn tục, sống đời cư sĩ, tiếp tục viết, suy ngẫm và lặng lẽ quan sát thế gian. Ông tu theo cách của mình: "Tu để sống cuộc đời của mình, nuôi dưỡng lối tư duy và trí tuệ của mình".
Giữa một thế giới ồn ào và đôi khi cay đắng, thơ ông như một chén trà thơm, một tiếng chuông Chùa giữa trưa vắng. Ông nhìn cuộc đời bằng đôi mắt "trống không", không phải vì vô cảm, mà vì đã thấu hiểu lẽ vô thường. Tác phẩm Đoạn Trường Vô Thanh(Hậu Truyện Kiều) – đoạt giải nhất văn chương năm 1973  là minh chứng cho tài năng bậc thầy và tấm lòng từ bi của ông đối với thân phận con người.
Nhắc đến Phạm Thiên Thư, người ta không thể không nhắc đến người bạn tri kỷ lớn trong đời ông - nhạc sĩ Phạm Duy. Chính Phạm Duy đã dùng âm nhạc làm đôi cánh, đưa những vần thơ của "tu sĩ Tuệ Không" bay cao, chạm đến những tầng cảm xúc sâu thẳm nhất của nhiều thế hệ.
Phạm Duy từng gọi cuộc gặp gỡ giữa ông và Phạm Thiên Thư là sự giao thoa giữa "ngọn núi và đám mây". 
Trong những năm tháng chiến tranh khốc liệt, khi tâm hồn con người trĩu nặng đắng cay và bế tắc, nhạc sĩ đã tìm thấy ở thơ Phạm Thiên Thư một "cõi lạ" mát mẻ và thanh khiết. Từ sự đồng điệu ấy, những tuyệt phẩm đã ra đời, trở thành di sản bất biến của âm nhạc Việt Nam: Ngày Xưa Hoàng Thị, Đưa Em Tìm Động Hoa Vàng, Em Lễ Chùa Này ...
Nếu thơ Phạm Thiên Thư là những sợi tơ trời óng ả, thì Phạm Duy chính là người dệt nên tấm lụa quý, và tiếng hát Thái Thanh đã dát vàng lên đó, tạo nên một "Quyền uy tuyệt đối" của cái Đẹp trong lòng người hâm mộ.
Nỗ lực Thi hóa kinh Phật của ông đã giúp giáo lý nhà Phật đi vào lòng người một cách tự nhiên như hơi thở. Những triết lý thâm sâu của Kinh Kim Cương, Pháp Cú, Hiền Ngu đã được chuyển sang thể lục bát dân gian một cách mượt mà. Đặc biệt, mười bài Đạo Ca (phổ nhạc bởi Phạm Duy) là sự kết hợp tuyệt vời giữa tinh thần thiền học và âm nhạc hiện đại. Những bản nhạc như Pháp Thân, Chắp Tay Hoa, Qua Suối Mây Hồng... không chỉ là bài hát, mà là những lời kinh cầu nguyện cho hòa bình và sự an lạc của tâm hồn. Phạm Thiên Thư từng tâm sự rằng, ông viết Đạo Ca sau một giấc mơ thấy Bồ tát trao đóa sen trắng – một hình ảnh biểu trưng cho sự thanh khiết  mà ông theo đuổi suốt đời.

Thôi thì thôi để mặc mây trôi
Ôm trăng đánh giấc bên đồi dạ lan
Thôi thì thôi chỉ là phù vân
Thôi thì thôi nhé, có ngần ấy thôi
...

Phạm Duy


Nguồn Tổng Hợp

Đường về Việt Bắc xa xa ...


 Đây

Chủ Nhật, 3 tháng 5, 2026

Sen mùa mới ...


 Sen mùa mới, kỷ nguyên mới, kỷ nguyên .. vươn minh




Thứ Sáu, 1 tháng 5, 2026

Một người Tốt, trong khát vọng ..

 “ Một người Tốt, trong khát vọng tối tăm

Vẫn ý thức được con đường Chính Nghĩa ”

J.W.Goethe -

Quang Chiến dịch




Không thể làm ánh sáng

KHÔNG THỂ LÀM ÁNH SÁNG 

Nếu bạn không thể làm ánh sáng

Cho một ai
Cũng đừng làm bóng tối
 
Karl Lubomirski
Quang Chiến dịch
 
 

Cách Mạng

CÁCH MẠNG

Mỗi ngày, tâm ta là một chiến trường giữa sự vị kỷ và lòng vị tha. Đôi khi, chỉ một khoảnh khắc dừng lại để sẻ chia thay vì giữ lấy cho riêng mình, ta đã âm thầm thực hiện một "Cuộc Cách Mạng".

Phước báu không nằm đâu xa, nó nằm ngay trong giây phút ta vượt lên được những bản năng thấp kém để sống trọn vẹn với Từ Tâm.

Mỗi khi bạn từ chối một ý niệm tham lam để chọn một hành động sẻ chia, bạn đang thực hiện một cuộc cách mạng nội tâm. Đó là phước báu tối thượng - chiến thắng chính những bản năng thấp kém của mình.


 Bhikkhu Bodhi

Thứ Năm, 30 tháng 4, 2026

Hóm phết

Một trưa nắng ...

Gặp em trên cao lộng gió ...

Góc nhìn của phương tây về cuộc tiến công ...

GÓC NHÌN CỦA PHƯƠNG TÂY VỀ CUỘC TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY TẾT MẬU THÂN 1968
“Mặc dù xét về mặt kỹ thuật, cuộc tiến công Tết là một thất bại quân sự đối với Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng, nhưng về mặt chính trị, nó được xem là một chiến thắng”

Khi nghiên cứu cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam, giới sử học phương Tây đều nhất trí nhận định tầm quan trọng của cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 mà họ gọi là “cuộc tiến công Tết” hay – ngắn gọn hơn – “Tết”. Quan điểm khá đồng nhất là đều nhận định sự kiện này vừa là thất bại, vừa là thắng lợi của bên này hay bên kia:
“Có lẽ chỉ có trong cuộc tiến công Tết mà bên thua hoàn toàn xét về ý nghĩa chiến thuật lại có một thắng lợi trội hơn hẳn về mặt tâm lý và, vì thế, cả về mặt chính trị nữa” (Bernard Brodie).
“Về mặt quân sự, Tết là một chiến thắng rõ ràng của Mỹ; về mặt tâm lý, đó lại là một sự đảo ngược có tính quyết định” (Michael Maclear).
Tết là “một chiến thắng quân sự của Mỹ, biến thành một thất bại chính trị và tâm lý đối với Mỹ” (Phillip B. Davidson).
“Một số nhà quan sát phương Tây cho rằng cuộc tiến công Tết là một thất bại của Việt Cộng. Một số khác lại chỉ ra tác động tâm lý của cuộc tiến công đối với dư luận công chúng ở Mỹ và ảnh hưởng to lớn đối với chính sách của Mỹ, xem đó là một chỉ dẫn cho thấy cuộc tiến công là một thành công nổi bật của Cộng sản” (William J. Duiker).
“Mặc dù xét về mặt kỹ thuật, cuộc tiến công Tết là một thất bại quân sự đối với Mặt trận dân tộc giải phóng, nhưng về mặt chính trị, nó được xem là một chiến thắng” (Marilyn B. Young, John J. Fitzgerald và A. Tom Grunfeld).
Cộng sản “không hoàn thành các mục tiêu quân sự của họ trong cuộc tiến công Tết… nhưng đồng thời, nhiều nhà quan sát xem cuộc tiến công Tết như là một chiến thắng tâm lý xuất sắc đối với đối phương, một thắng lợi chính trị vẻ vang đối với họ tại nước Mỹ” (nhóm tác giả The Lessons of Vietnam War).
“Cuộc tiến công Tết là một thảm họa về mặt chiến thuật đối với Cộng sản… Nhưng thảm họa về mặt chiến thuật không có nghĩa là thất bại về mặt chiến lược. Quả thật, Tết là một thắng lợi chiến lược áp đảo của Cộng sản” (James S. Olson và Randy Roberts).

1. Thất Bại Quân Sự
Theo Stanley Karnow, Cộng sản “tấn công vào các thành phố và thị xã với hi vọng rằng một bộ phận của chính quyền đô thị trong chế độ Miền Nam sẽ quay ra chống lại Mỹ. Và mưu toan của họ muốn phá vỡ những cố gắng bình định là nhằm lôi kéo các viên chức ở nông thôn về phía họ.
Họ cũng tin rằng Miền Nam Việt Nam đã chín muồi với cách mạng, và rằng những người lính mỏi mệt của chính phủ Sài Gòn, những nông dân bị dời chỗ ở, những giáo phái thất vọng, những thanh niên cứng đầu và những phần tử bất hạnh khác trong dân chúng Miền Nam sẽ nổi dậy chống lại chính quyền Sài Gòn và người Mỹ…
Họ hi vọng lật đổ chế độ Sài Gòn và xúc tiến việc thành lập một chính phủ liên hiệp trung lập, do những người đại diện của Việt Cộng chi phối, chính phủ này sẽ đuổi Mỹ đi, đưa Việt Nam lên con đường tái thống nhất dưới sự kiểm soát của Cộng Sản”.
Vì vậy, vẫn theo Stanley Karnow, Cộng sản “lần đầu tiên đã chuyển chiến tranh từ môi trường nông thôn đến một đấu trường mới – đó là khu vực thành thị được cho là không thể đánh chiếm được ở Miền Nam Việt Nam”. Đây là “một loại hình chiến tranh rất khác… Họ đã chiến đấu một cách ngoan cường, đôi khi mù quáng, và thường bỏ rơi các chiến thuật linh hoạt của họ để giữ những vị trí không thể giữ được. Tại nhiều nơi, họ nhanh chóng bị đè bẹp bởi sức mạnh quân sự quá mạnh của Mỹ và Nam Việt Nam”.
Các nhà sử học phương Tây đều nhất trí nhận định: “Cuộc tổng tiến công thất bại với thương vong to lớn” (Phillip B. Davidson). “Có người ước lượng số thương vong lên tới 40.000” (George C. Herring) hay “45.000 người trong tổng số 84.000 người mà họ sử dụng trong các cuộc tiến công” (Phillip B. Davidson), tức khoảng 1/2 lực lượng tiến công (William J. Duiker).
Không chỉ bộ đội hi sinh, mà ở thành thị “cán bộ lãnh đạo chính trị xuất đầu lộ diện trong các cuộc tiến công” cũng bị tổn thất (Phillip B. Davidson), trong khi đó ở nông thôn “tổ chức chính trị của Cộng sản Miền Nam bị phá vỡ bởi chương trình Phượng Hoàng của CIA” (Stanley Karnow).
“Họ không hoàn thành bất cứ mục tiêu lớn nào của họ” (James S. Olson và Randy Roberts).
Một mặt, “họ không thể thiết lập những vị trí vững chắc trong vùng đô thị” (George C. Herring), “cuối cùng bị đẩy ra khỏi các thành thị lớn” (Chester L. Cooper), “chính phủ Ông Thiệu nắm lại quyền kiểm soát đại đa số các thành phố và thị xã (nhóm tác giả The Lessons of Vietnam War). Ở nông thôn cũng vậy, “trong vòng một năm, quân đội Việt Nam cộng hòa đã chiếm lại phần lớn những khu vực bị mất vào tay lực lượng nổi dậy và lại tiếp tục các cuộc hành quân bình định” (William J. Duiker).
Mặt khác, “không chỉ cuộc tổng tiến công… gặp thất bại, mà cuộc tổng khởi nghĩa cũng không hề xảy ra” (Phillip B. Davidson). “Người dân Miền Nam không chịu theo Việt Cộng, ngay tại những thành thị mà Việt Cộng tạm thời cai trị” (Phillip B. Davidson). “Họ không nổi dậy chống Mỹ – Thiệu và không đón tiếp Việt Cộng như những người đến giải phóng họ” (James S. Olson và Randy Roberts). Ngược lại, theo Phillip B. Davidson, “họ ủng hộ chính phủ Nam Việt Nam”.
“Quân đội Việt Nam cộng hòa không đầu hàng hay đào ngũ” (Phillip B. Davidson), “chính phủ Nam Việt Nam không sụp đổ” (James S. Olson và Randy Roberts).
“Các đơn vị quân sự Việt Cộng gồm phần lớn người dân bản xứ Miền Nam đã chịu gánh nặng chính của cuộc chiến đấu và bị thương vong nặng nề nhất” (Stanley Karnow).
Do đó, “sau cuộc tiến công Tết, quân chính qui Bắc Việt đảm nhận một nhiệm vụ lớn hơn nhiều trong chiến đấu” (James S. Olson và Randy Roberts). Vì vậy, “trong những năm sau đó, quân chính qui Miền Bắc ngày càng đông hơn ở nông thôn Miền Nam” (nhóm tác giả The Lessons of Vietnam War).
Là một sĩ quan quân báo cao cấp của Mỹ ở Miền Nam Việt Nam, Phillip B. Davidson lập luận: Thay vì phân tán lực lượng để tiến công hàng chục thành thị khắp Miền Nam, Cộng sản sẽ có nhiều cơ may chiến thắng nếu tập trung quân số khoảng 4 hay 5 sư đoàn để mở các cuộc tiến công chủ yếu vào hai tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên, đồng thời mở các cuộc tiến công thứ yếu vào Tây Nguyên, các tỉnh ven biển Trung Bộ và vùng xung quanh Sài Gòn để kìm chân quân Đồng minh.
Theo Phillip B. Davidson, Quảng Trị và Thừa Thiên gần vĩ tuyến 17 nên công việc hậu cần, yểm trợ từ Miền Bắc và từ vùng giải phóng Lào sẽ dễ dàng hơn. Khi cần rút lui, quân Cộng sản cũng nhanh chóng rút về Miền Bắc hay sang Lào. Khe Sanh có nhiều đặc điểm giống Điện Biên Phủ. Nếu ngay từ đầu, Cộng sản dùng một lực lượng lớn tiến công thì có thể tràn ngập Khe Sanh một cách dễ dàng. Sau khi mở cuộc tiến công Tết, việc chiếm Khe Sanh trở nên khó khăn hơn.
Vẫn theo Phillip B. Davidson, Cộng sản không chọn cách đánh này, vì tuy có nhiều lợi điểm, nhưng chỉ có tiến công quân sự mà không có khởi nghĩa của quần chúng.

2. Thắng Lợi Tâm Lí Và Chính Trị 
Mãi cho đến cuối năm 1967 – đầu năm 1968, các viên chức Mỹ ở Sài Gòn cũng như ở Washington đều đưa ra những lời tuyên bố lạc quan về tình hình Miền Nam Việt Nam. Tiêu biểu là tuyên bố của phó tổng thống Hubert H. Humphrey: “Chúng ta đang bắt đầu chiến thắng trong cuộc đấu tranh này. Chúng ta đang ở thế chủ động. Chúng ta đang giành được đất đai. Chúng ta đang tiến bộ vững chắc”.
Do đó, khi xảy ra cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân, nhất là khi các chiến sĩ biệt động tiến công Tòa đại sứ Mỹ, phía Mỹ vô cùng bàng hoàng.
Tướng David Richard Palmer cho biết: “Một sách giáo khoa về lịch sử quân sự in năm 1969 và được các học viên Học viện quân sự West Point sử dụng trong việc nghiên cứu chiến tranh Việt Nam, viết: Điều đầu tiên cần nói về cuộc tổng tiến công… là tình báo của Đồng minh đã thất bại ngang với trận Trân Châu cảng năm 1941 và trận tiến công Ardennes năm 1944. Bắc Việt Nam đã giành được sự bất ngờ hoàn toàn”.
Ban tư vấn về tình báo nước ngoài của tổng thống Mỹ (PFIAB) nhận định: “Mặc dù đã được cảnh báo, nhưng Mỹ đã không lường trước được một cách đầy đủ tính cách mãnh liệt, sự phối hợp và thời điểm cuộc tiến công của đối phương. Đại sứ Bunker và tướng Westmoreland thừa nhận điều đó”.
Theo PFIAB, “yếu tố quan trọng nhất là thời điểm: có ít viên chức Mỹ và Việt Nam Cộng Hoà tin rằng đối phương sẽ tiến công trong dịp Tết… Yếu tố bất ngờ lớn thứ hai là số lượng các cuộc tiến công được mở ra cùng một lúc… Quan trọng hơn là không đoán được tính chất của các mục tiêu bị tiến công” 
Người Mỹ đầu tiên bị bất ngờ là Ellsworth Bunker, vì chính tòa đại sứ của ông ta bị tiến công rất sớm. Ông tâm sự: “Những báo cáo của tướng Westmoreland gửi cho tôi đều viết: về mặt quân sự, Mỹ đang kiểm soát tình hình”. Vì vậy, khi các cuộc tiến công nổ ra, ông cảm thấy “kinh ngạc vì có nhiều người xâm nhập vào thành phố như vậy, kinh ngạc vì họ lọt được vào bên trong khuôn viên Tòa đại sứ”.
Khi tin tức bay về Washington, “cuộc tiến công Tết khiến Johnson sửng sốt. Cả tin vào phần lớn các báo cáo cho rằng Cộng sản đã bị suy yếu, ông ta không bao giờ tưởng tượng rằng họ lại có thể đột kích vào Tòa đại sứ Mỹ ở Sài Gòn hay tiến công các thành thị ở Miền Nam”.
Báo chí – bao gồm báo viết, báo nói và nhất là báo hình – đã đưa chiến tranh Việt Nam đến tận nhà người dân Mỹ. George C. Herring nhận định: “Trong chừng mức Bắc Việt Nam có ý định tiến công Tết để gây ảnh hưởng đối với nước Mỹ thì họ đã thành công, vì cuộc tiến công đã tạo ra những làn sóng chấn động ngay lập tức trong toàn nước Mỹ. Những bài tường thuật trên truyền hình về các trận đánh đẫm máu ở Sài Gòn và Huế chế giễu các báo cáo đầy lạc quan của Johnson và Westmoreland hồi cuối năm 1967, làm tăng thêm sự thiếu niềm tin, và những nhà báo công khai nhạo báng điều mà Westmoreland tự cho là chiến thắng”.
Các tác giả cuốn "The Lessons of Vietnam War" cũng xác nhận “Tác động lớn nhất của Tết… được cảm nhận ở nước Mỹ. Tin tức về các trận đánh trên đài truyền hình đã vẽ nên một bức tranh khác xa những báo cáo tô màu hồng của các người phát ngôn của chính phủ.
Đa số người Mỹ không bao giờ nghĩ rằng những người Cộng sản ở Nam Việt Nam lại đủ mạnh và cả gan tiến công các Thành Thị hay đột kích Tòa đại sứ Mỹ”. “Tính chất dũng cảm táo bạo của cuộc tiến công Tết đã phủ nhận hình ảnh một đối phương kiệt sức và sắp bị đánh bại” như chính quyền Johnson rêu rao, do đó “sau Tết, niềm tin của công chúng Mỹ đối với sự lãnh đạo của tổng thống Johnson bị xói mòn nghiêm trọng”.
Cho đến cuối năm 1967, lực lượng quân sự Đồng minh có 1.343.800 quân (gồm 485.600 quân Mỹ, 798.800 quân Việt Nam Cộng Hoà, 47.830 quân Hàn Quốc, 6.820 quân Australia, 2.200 quân Thái Lan, 2.020 quân Philippines và 530 quân New Zealand), tất cả đều được trang bị với vũ khí và phương tiện chiến tranh hiện đại. Mỹ vẫn thường tuyên bố: cả chiến lược “Tìm Và Diệt” lẫn chương trình bình định của họ đã và đang thành công.
Chester L. Cooper viết: Với cuộc tiến công Tết, “một điều hiện ra rõ ràng: bất chấp những chương trình bình định đầy tham vọng và những luận điệu lạc quan về sự tiến bộ, Cộng sản dường như vẫn kiểm soát được nông thôn Việt Nam nên có thể đi lại tùy theo ý muốn của họ. Rõ ràng là các nỗ lực của Mỹ trong 2 hay 3 năm qua nhằm củng cố vùng thôn quê chống lại Cộng sản tiến công hay xâm nhập trở thành vô ích”.
Nhận định của Chester L. Cooper tương tự với ý kiến của Ban tư vấn về tình báo nước ngoài của tổng thống Mỹ (PFIAB): “Tại sao 84.000 bộ đội Việt cộng và Bắc Việt Nam di chuyển ngang qua vùng nông thôn để áp sát các thành thị mà nông dân Nam Việt Nam không báo cho chính quyền Sài Gòn hay quân Đồng minh hay biết? Thế thì chương trình bình định nông thôn đã tranh thủ được con tim và khối óc của người dân đến đâu? Ở nông thôn, Việt Nam Cộng Hoà hay Việt Cộng kiểm soát nhiều đất đai hơn, tranh thủ được nhiều người dân hơn?”.
Chester L. Cooper viết tiếp: “Ngay cả đô thị, nơi mà cho đến nay vẫn được xem là nằm dưới sự kiểm soát chặt chẽ của chính quyền Ông Thiệu, vẫn có thể bị tấn công như thường”.
Báo chí Mỹ lúc đó phản ánh suy nghĩ của đa số người Mỹ về cuộc chiến tranh mà chính phủ của họ đang tiến hành ở Việt Nam:
“Nhân dân Mỹ sẽ phải sẵn sàng để thừa nhận viễn cảnh theo đó toàn bộ nỗ lực của Mỹ ở Việt Nam có thể sẽ thất bại” (Báo Wall Street Journal).
“Chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam là không thể thắng được. Chiến tranh ấy càng kéo dài thì người Mỹ càng chịu tổn thất và nhục nhã” (nhà báo Joseph Kraft).
“Một chiến lược tiếp tục làm như cũ là điều không thể tha thứ được” (Tuần báo Newsweek).
Các tác giả "The Lessons of Vietnam War" nhận định: “Tết đã làm thay đổi ý kiến của công chúng dứt khoát chống lại chiến tranh… Số người ủng hộ chiến tranh giảm mạnh từ 62% xuống còn 41%. Lần đầu tiên trong thời kỳ chiến tranh, số người chủ hòa chiếm đa số, hầu như tăng gấp đôi chỉ trong vòng 1 tháng (từ 23% lên 43%)”.
Nhiều người trước kia là “diều hâu”, nay biến thành “bồ câu”. Dean Rusk, bộ trưởng ngoại giao Mỹ trong hai chính phủ Kennedy và Johnson, nhìn nhận: “Sau cuộc tiến công Tết, có một điều rất rõ ràng là nhiều người dân bình thường cuối cùng đi tới kết luận rằng: nếu chính phủ Mỹ không thể nói cho họ biết lúc nào cuộc chiến tranh này kết thúc thì chúng ta nên vứt nó đi”.
Tại hội nghị chọn ứng cử viên của Đảng Dân chủ ra tranh cử chức tổng thống (tổ chức tại New Hampshire tháng 3-1968), thượng nghị sĩ Eugene McCarthy, một người chưa có tiếng tăm bao nhiêu, đã giành được 300 phiếu nhờ chủ trương đưa nước Mỹ ra khỏi cuộc chiến tranh Việt Nam.
“Ngày càng có nhiều người Mỹ tin rằng gửi quân sang Việt Nam là một sai lầm… Nhiều người Mỹ yêu cầu chính quyền Johnson rút khỏi Việt Nam”. Nhà báo nổi tiếng của hãng CBS, Walter Cronkite, đề nghị: “Cách hợp lí duy nhất để thoát ra khỏi chiến tranh Việt Nam là thương thuyết, không phải với tư cách những người chiến thắng, mà như những người chính trực làm điều tốt nhất họ có thể làm”.
Tổng thống Johnson lâm vào cảnh bối rối khi phải đối phó cùng một lúc với diễn tiến quân sự ở Việt Nam và với tình hình chính trị ngay tại nước Mỹ trong năm bầu cử tổng thống.
Đầu tháng 2-1968, tướng Westmoreland đề nghị ông gửi thêm 206.000 quân sang Việt Nam. Chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng liên quân, tướng Earl D. Wheeler, ủng hộ đề nghị này. Bản thân Johnson cũng thấy “bác bỏ yêu cầu này có thể là nguy cơ dẫn tới thất bại trên chiến trường”. Nhưng muốn đáp ứng nó, Johnson phải chấp nhận gọi quân dự bị nhập ngũ, tăng thêm thuế, cắt giảm nhiều chương trình phúc lợi xã hội cho người dân Mỹ…, nghĩa là chấp nhận sự thất cử của Đảng Dân chủ.
Sau nhiều ngày đêm suy nghĩ, Johnson quyết định bác bỏ yêu cầu tăng quân của Westmoreland. Theo Chester L. Cooper, “đây là lần đầu tiên tổng thống dường như không còn tin rằng, về mặt quân sự, Mỹ đang đi đúng đường”. Ngày 31/3/1968, Johnson chính thức đề nghị với chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà tiến hành ngay cuộc đàm phán để thương thuyết việc chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình. Đáp ứng điều kiện tiên quyết do đối phương đặt ra, Johnson chấp nhận ngưng ném bom Miền Bắc trong hai bước: một phần (31/3/1968) và hoàn toàn (31/10/1968).
Các quyết định này mở đầu cho sự cáo chung của chiến lược “Hai Gọng Kìm” (tìm – diệt và bình định) của chiến tranh cục bộ ở Nam Việt Nam. Đây là chiến thắng quan trọng nhất của cuộc tiến công Tết như William J. Duiker viết: “Tết dẫn tới một sự thay đổi quan trọng trong chiến lược chiến tranh của Mỹ”. Ngoài sự “phá sản hiển nhiên” của chiến lược cũ và đi tìm chiến lược mới, Phillip B. Davidson còn nói tới sự kết thúc của chiến tranh phá hoại lần thứ nhất ở Miền Bắc và “sự gần như diệt vong của chương trình bình định” như là những kết quả khác của cuộc tiến công Tết.
Đi đôi với sự thay đổi chiến lược là sự thay đổi nhân sự ở cấp cao. Tổng thống Johnson ký giấy cho bộ trưởng quốc phòng McNamara rời Lầu Năm Góc, cho tổng chỉ huy MACV Westmoreland rời “Lầu Năm Góc phương Đông” và sau đó tuyên bố rời Nhà Trắng khi mãn nhiệm kỳ tổng thống chứ không tìm kiếm sự tái tranh cử.
Trong những ngày đầu xuân năm ấy, Quân và Dân Việt Nam đã viết nên một trang sử vẻ vang bằng xương bằng máu mà ngay cả giới sử học phương Tây cũng phải thừa nhận là “một bước ngoặt quan trọng trong chiến tranh Việt Nam”, “có tác động to lớn đối với nước Mỹ và dẫn tới một thời kỳ mới trong cuộc chiến tranh tưởng chừng như vô tận này”.

“Mặc dù xét về mặt kỹ thuật, cuộc tiến công Tết là một thất bại quân sự đối với Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng, nhưng về mặt chính trị, nó được xem là một chiến thắng”

Theo Phan Văn Hoàng 
* Tham luận của TS Phan Văn Hoàng – cựu chiến binh, Giảng viên Đại học, Tổng thư ký Hội khoa học lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh – tại Hội thảo khoa học “Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu thân 1968” do Bộ Quốc phòng tổ chức ở thành phố Huế, 10-11/1/2008. Tham luận được in trong sách "Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968", NXB Quân đội Nhân Dân, Hà Nội, 2008

* Ảnh: Catherine Leroy - "chiến sĩ Giải phóng điểm hỏa qua tường rào một ngôi nhà gần nhà thờ Chính tòa Huế".
Catherine Leroy là nữ phóng viên ảnh người Pháp hiếm hoi, thậm chí có thể là duy nhất của phương Tây, tác nghiệp giữa hàng ngũ lực lượng Giải phóng trong trận Mậu Thân 1968.