Thứ Hai, 29 tháng 1, 2018

Hãy để mùa hè yên nghỉ

Đường phố hôm nay mùa đông
Sao áo em mùa hạ?





Hãy để mùa hè yên nghỉ

Đường phố hôm nay mùa đông
Sao áo em mùa hạ?
Những sọc áo xanh cuộn sóng
Em mang trên ngực biển đầy

Biển những ngày hè đẹp lắm
Ngày nào tìm biển ta say
Nhưng mùa hạ đã ra đi
Chân trời xa không ngấn nắng

Sao em còn mang áo mỏng
Có còn mùa hạ nữa đâu
Sao em làm lòng ta đau
Nhớ ngọn lửa hè đã tắt

Chắc biển ngoài kia cũng xám
Lạnh co những sóng rộng dài
Ngực em cao làm tức ngực
Hãy chôn dưới lớp áo dầy

Đường phố hôm nay mùa đông
Hãy để mùa hè yên nghỉ.

Hoàng Hưng

Chủ Nhật, 28 tháng 1, 2018

Cờ ngày nào... tung bay trên phố

Một chút Mặt Trời trong tuyết lạnh


ĐỪNG GỌI HỌ LÀ ANH HÙNG

Khó nói hết cảm xúc những ngày qua. Vâng, lịch sử. Chưa bao giờ vui đến thế. Chưa bao giờ có được những phút giây ngập tràn, hả hê thế. Tôi cũng hét, gào đến khản giọng. Bao triệu người Việt hét mừng đến lạc giọng như tôi.
Nhưng rồi cũng xong. Stop. Cho dù chiều mai, Việt Nam thắng hay thua. Bóng đá, trả lại cho bóng đá.
Thêm ngày mai thôi. Vui chừng ấy đủ rồi. Khóc cười đủ rồi. Ừ thì “bất khuất, hiên ngang, quật cường, vĩ đại”, chi cũng được. Nhưng đừng gọi họ là “anh hùng”, đừng nhét nhồi cái “tinh thần yêu nước” vào quả bóng.
Kinh! Nhiều triết gia còn nhìn suy từ trái bóng, trông ra… vận nước.
Vận nước ư? Xin nhìn vào những trạm BOT cướp ngày dày đặc các ngả đường thiên lý Bắc Nam. Xin nhìn vào những vùng biển chết, những xác cá trôi, những đoàn dân oan đầu chít khăn tang thét gào trong… nhang khói. Vận nước đấy!
Có thể ngày mai, rồi ngày kia nữa, cả nước sẽ xuống đường. Tôi cũng thế. Cho dù các anh có thắng hay thua. Nhiều, nhiều lắm, có thể đến hàng triệu những kẻ cuồng mê như tôi sẵn sàng lao đến ôm các anh vào lòng, thậm chí quỳ hôn cả… đôi giày dưới chân các anh.
Nhưng không, vạn lần không, các anh không phải là vận nước. Những đôi giày kia có thể “đạp trên đầu cả Á châu”, thì cái chân của các anh cùng trái bóng tròn kia cũng không bao giờ thành vận nước. Vận nước ư? Nếu từ trái banh mà nhìn ra vận nước, vậy sao không thuê vài chính khách từ các quốc gia dân chủ hùng cường về làm Tổng Bí thư, Thủ tướng Việt?
Cho dù chiều mai có thắng, dù cả nước dang tay ôm các anh vào lòng, cũng xin đừng gọi các anh là “anh hùng dân tộc”. Rốt cuộc, bóng đá vẫn chỉ là… đá bóng. Hãy quay về với cái máng lợn của mình.
Tôi đang lo sợ điều này. Không chừng, nhà nước phong các anh thành “anh hùng” thật thì khốn. Khốn cho cái danh “anh hùng”, khốn cho các anh, khốn cho cái dân tộc “anh hùng” này.

Nước Việt tôi ơi, đừng bay như quả bóng!

Trương Duy Nhất
( Viết trước trận chung kết U23 châu Á )

Thứ Năm, 25 tháng 1, 2018

Thái độ của người tu tập Phật Giáo đối với sự đau đớn

" Chớ bao giờ để cho đức tin trở thành một chướng ngại ngăn chặn sự thật "
- Ajahn Brahm -




THÁI ĐỘ CỦA NGƯỜI TU TẬP PHẬT GIÁO ĐỐI VỚI SỰ ĐAU ĐỚN
Tôi rời Singapore đến đây từ hôm qua và đang bị trúng thực. Suốt đêm hôm qua tôi ốm liệt giường, và ngay trong lúc này thì bao tử vẫn còn không tốt lắm. Cách nay không lâu có một người hỏi tôi như thế này: "Thái độ của người tu tập Phật Giáo trước sự đau đớn trên thân xác và các nỗi đau buồn trong cuộc sống nên là như thế nào?" Tôi nghĩ rằng câu hỏi ấy có thể là một chủ đề lý thú cho buổi nói chuyện tối hôm nay.

Bàn thảo với nhau về sự đau đớn không hề mang tính cách tiêu cực, bởi vì dù mình là ai, sinh sống ra sao, và dù nghĩ rằng mình đang khoẻ mạnh, thế nhưng nhất định vào một ngày nào đó mình cũng sẽ ốm đau, phải chịu đựng sự đau đớn, hoặc gặp phải những cảnh huống đau buồn. Một hôm có người nói với tôi rằng: "Là một nhà sư tất nhiên là ông hành thiền đều đặn và sống đạo đức nên nhờ đó ông sẽ không bao giờ ốm đau". Người ta cứ tưởng rằng hễ là một người tu hành thì sẽ không đau ốm và không bao giờ chết! Thế nhưng đối với một nhà sư hay một người thế tục thì cũng như nhau cả, thỉnh thoảng ốm đau là chuyện bình thường. Tuy nhiên đối với trường hợp một nhà sư thì mọi sự có khác hơn, bởi vì người này có cả một lô các phương pháp luyện tập giúp mình chủ động sự đau đớn trên thân xác và cả các khó khăn trong cuộc sống. Do đó sự đau đớn nhất định sẽ không mang lại cho chúng ta (Ajahn Brahm xem những người ngồi nghe đều là những người tu hành như mình và ông đã gọi chung tất cả là "chúng ta") cảm tính tiêu cực hay một sự trầm cảm nào, hơn thế nữa đau đớn dù có xảy ra cũng sẽ là một dịp giúp chúng ta tập chủ động nó, vượt lên trên nó và thoát ra khỏi nó - chẳng hạn như chúng ta vẫn cảm thấy khoẻ mạnh nhưng bao tử thì có thể là đang quặn đau!
 Đức Phật đã thuyết giảng như thế nào về sự đau đớn? Ngài bảo rằng sự bất an của chúng ta gồm có hai thể dạng khác nhau - theo tôi thì sự khẳng định này chính là một trong các chiếc chìa khóa quan trọng nhất trong giáo huấn của Ngài, giúp chúng ta hiểu được sự đau đớn là gì và phải làm thế nào để thoát ra khỏi nó. Ngài dạy rằng sự đau đớn gồm có hai thứ: một trên thân xác và một trong tâm thần; đối với sự đau đớn trên thân xác thì khó có thể làm làm gì khác hơn, thế nhưng đối với sự đau đớn trong tâm thần thì trái lại người ta có thể biến cải được nó, và đấy cũng lại là thể dạng đau đớn quan trọng hơn cả. Thật vậy, thái độ tâm thần đôi khi rất mạnh và có thể làm cho sự đau đớn trên thân xác hoàn toàn tan biến hết. Tôi nghĩ rằng quý vị cũng đã từng được nghe nói đến trường hợp của các lực sĩ dù bị thương nhưng vẫn tiếp tục tranh đua, rồi sau đó thì mới cảm thấy đau và biết là mình đã bị gẫy xương chân hay xương tay. Các trường hợp như thế cũng đã từng xảy ra với tôi nhiều lần trong cuộc sống, và cũng chính nhờ đó mà tôi hiểu rằng tâm thần có thể tạo ra các tác động rất mạnh, và cường độ của sự đau đớn trên thân xác thì tùy thuộc rất nhiều vào thái độ [tâm thần] của mình.
 Lúc còn là sinh viên, một lần tôi bị cảm thật nặng. Không sao đến trường được, phải giam mình trong gian phòng sinh viên, tôi cảm thấy cơn bệnh thật gay gắt. Bên cạnh chẳng có ai chăm sóc; không ngủ được và cũng không ngồi lên được... Bất ngờ có một người gõ cửa và thúc hối: "Mở cửa! Mở cửa!". Tôi đành phải gượng dậy và lết ra mở cửa. Hóa ra là một người giao hàng mang đến cho tôi một giàn âm thanh nổi mà tôi đã đặt mua từ trước. Tôi đặt ngay vào máy một đĩa nhạc mà tôi ưa thích nhất, và chỉ nửa giờ sau - quả thật hết sức bất ngờ - bệnh cảm của tôi biến mất! Nửa giờ trước đó, hai mắt còn cay xè, vừa ho lại vừa nghẹt mũi..., thế nhưng sau khi nghe xong đĩa nhạc thì tất cả các triệu chứng ấy đều hoàn toàn biến mất, tôi đã khỏi bệnh! Chuyện ấy không nhất thiết là một phép lạ, mà đơn giản chỉ là một cái gì đó trong tâm thức tôi đã biến đổi khác đi. Tôi không hề ngụ ý khuyên quý vị cứ nghe một đĩa nhạc mà quý vị ưa thích thì bệnh cúm mà quý vị có thể gặp phải sau này tất sẽ được chữa lành (!) - mà đúng hơn tôi chỉ muốn nói là một sự thay đổi thái độ [tâm thần] có thể chữa lành cho quý vị. Thành phần tâm thần của sự đau đớn là thành phần quan trọng hơn cả. Mỗi khi cảm nhận một sự đau đớn thì thông thường người ta dồn tất cả sự chú tâm của mình vào chỗ ấy và bám chặt vào đấy. Tôi tin rằng các bác sĩ chữa trị đều biết chúng ta thường hay thổi phồng một cách quá đáng sự đau đớn của mình. Sự đau đớn tất nhiên phát sinh từ nội tâm, thế nhưng nếu cứ làm cho các thớ thịt chung quanh chỗ đau căng thẳng thêm thì cũng chỉ là cách khiến cho sự chấn thương càng gia tăng thêm mà thôi. Thông thường chỉ cần phát huy một thái độ cởi mở và tạo ra sự thư giãn thì cũng đủ để khiến cho sự đau đớn trên thân xác giảm xuống một cách đáng kể. Do đó nếu càng tìm cách chống lại sự đau đớn thì lại càng làm gia tăng thêm tính cách tiêu cực của nó. Nếu chúng ta thét lên với sự đau đớn: "Hãy cút đi! không được dây dưa ở đây nữa", thì nó lại càng trở nên gay gắt hơn và trở thành một sức mạnh bất khả trị và không sao kham nổi.
 Với tư cách một nhà sư Phật Giáo tôi luôn phản ứng ngược lại với cách hành xử thường tình. Thông thường mỗi khi bị đau đớn hành hạ thì người ta tìm cách thoát ra khỏi nó. Khi ngón tay bị bỏng thì tự động người ta rút tay ra khỏi chỗ nóng; hoặc nếu bị muỗi đốt thì gãi. Dù là đối với bất cứ một sự khó khăn nào xảy ra thì người ta cũng đều hành xử theo cung cách đó, và thông thường thì đấy cũng chỉ là cách khiến cho tình trạng đau đớn trở nên tồi tệ hơn. Trong cuộc sống, tôi không tìm cách tách ra khỏi sự đau đớn có nghĩa là trốn tránh các sự bất ổn trên thân xác hay trong tâm thần, mà tôi luôn hành xử ngược lại. Nếu biết hướng tâm thức mình một cách thật tự nhiên vào sự đau đớn và không hối hả tìm cách lẩn tránh nó, thì tâm thức cũng sẽ trở nên thân thiện hơn với sự đau đớn ấy và không tìm cách chống lại nó. Tâm thức sẽ làm quen với nó thay vì hận thù nó. Đấy là nguyên tắc căn bản mà quý vị nên đem ra áp dụng trong cuộc sống của mình: hãy mang lại hòa bình và chớ bao giờ gây ra chiến tranh. Hãy tỏ ra mình là một người hiếu hòa, không những đối với tình trạng gây hấn trên thế giới mà cả với cuộc chiến mà mình đang dàn ra để đối đầu với hiện thực trong cuộc sống của chính mình; đấy là cuộc chiến mà quý vị đang bung ra để chống lại đớn đau, bệnh tật, và đôi khi cũng để chống lại các vấn đề khó khăn xảy ra bên trong tâm thần mình hay bên ngoài xã hội (quả là một lời khuyên thật đẹp: nếu không đủ sức hiếu hòa với những sự bất toại nguyện tức là các kẻ thù thật nhỏ nhoi trên thân xác và trong tâm thức mình thì làm thế nào có thể mang lại hòa bình trên toàn thế giới được). Chúng ta tuyên chiến với tất cả những thứ ấy: "Mọi sự không được phép xảy ra như thế..., Không thể để cho chuyện ấy xảy ra như thế được, tôi phải giải quyết ngay mới được... Này đau đớn, ta cấm mi không được lẩn quẩn nơi này nhé! Này bệnh tật, mi phải cút đi ngay! Này căng thẳng thần kinh, mi phải tan biến đi tức khắc!" Chính thái độ tiêu cực đó sẽ nuôi dưỡng và làm gia tăng thêm sự đau đớn. Thế nhưng cũng có một giải pháp khác: "Đau đớn đấy à, xin chào đón bạn! Cám ơn bạn đã đến với tôi, cho tôi được tỏ bày tình thân với bạn. Đau đớn ơi, tôi quý trọng bạn như một người bạn chân tình nhất của tôi".
 Tôi tập cách hành xử đó từ khi còn là một tỳ kheo trẻ ở Thái Lan. Cuộc sống bên cạnh thầy tôi là Ajahn Chah thật hết sức gay go. Thầy tôi không bao giờ cho phép một tỳ kheo hơi tí đã kêu đau! Chúng tôi sống trong một ngôi chùa trong một khu rừng trên miền bắc Thái, khí hậu thật nóng bức và ẩm ướt. Khổ nhất là muỗi quá nhiều - không biết bao nhiêu là muỗi! Mỗi tối sau khi mặt trời lặn thì phải ngồi thiền dưới một gốc cây, và mỗi khi ngồi xuống thì cứ như là cắm một tấm biển với hàng chữ "Nhà hàng ăn mở cửa". Những chiếc đầu trọc nhẵn thín của chúng tôi là những sân bay thật thuận tiện cho đàn muỗi hạ cánh! Dường như chúng biết được chúng tôi là những người phi-bạo-lực và sẽ không đập bẹp chúng như những người khác, nên cứ thế mà chúng tha hồ! Tôi là một trong số các tỳ kheo Tây Phương đầu tiên tu học ở đây, do đó đàn muỗi cũng tự do thưởng thức món ăn Tây Phương (mỉm cười). Tôi đoan chắc rằng chúng không khỏi kháo nhau rằng "Này, cứ đến khu rừng ấy thì sẽ nếm được món ăn Tây Phương!" (mỉm cười).
Thật hết sức khủng khiếp. Một hôm tôi đếm trên cánh tay tôi có đến hơn năm mươi con muỗi - tôi không nói ngoa! Chỉ cần một con muỗi thôi cũng đủ làm cho mình ngứa ngáy, nếu năm mươi hay sáu mươi con muỗi đốt mình một lúc thì hãy cứ tưởng tượng xem tình trạng sẽ căng thẳng đến mức độ nào! Không có gì che thân, không có màn cũng không có kem thoa cho đỡ ngứa... Các tỳ kheo Thái Lan hầu như không hề bị muỗi đốt, trong khi đó thì đàn muỗi cứ tìm những người Tây Phương chúng tôi mà tha hồ thưởng thức. Một hôm chúng tôi kéo nhau đến tìm vị thầy chúng tôi là Ajahn Chah để xin đổi giờ hành thiền hầu tránh muỗi đốt. Thầy chúng tôi trả lời ngắn gọn bằng cách nhắc lại cho chúng tôi về ý nghĩa của chữ "ajahn" là gì - có nghĩa là người thầy hay là người giảng dạy - và bảo với chúng tôi rằng: "Kể từ giờ phút này các bạn đã có một người thầy mới là Ajahn Muỗi, nên nhớ rằng người giảng dạy cho các bạn trước đây là Ajahn Chah nay không còn phải là thầy của các bạn nữa". Thật là một bài học tuyệt vời cho tất cả chúng tôi! Và cứ thế chúng tôi phải tu học với Ajahn Muỗi... Thế nhưng đấy cũng lại là cách giúp chúng tôi thu đạt được nhiều kinh nghiệm thực tiễn hơn so với sách vở, nơi trường ốc hay việc nghe giảng. Nếu muốn chủ động sự đau đớn hoặc các cảnh huống khó khăn thì phải học trong cuộc sống của chính mình. Phải hiểu rằng nếu càng lo âu thì lại càng khiến cho mình trở nên căng thẳng hơn và càng làm cho các khó khăn trở nên trầm trọng hơn. Nếu biết tạo ra cho mình một sự thư giãn thật sự hầu giúp mình buông xả tất cả, thì các khó khăn cũng sẽ biến mất.
 Những gì đã trở thành thói quen đối với tôi - và thật ra thì đấy cũng chính là cách đã giúp tôi hành thiền một cách đúng đắn - ấy là sự chú tâm vào hơi thở. Mỗi khi tập trung được sự chú tâm thì mình cũng sẽ không còn cảm thấy lo lắng hay suy nghĩ đến các chuyện khác nữa; trái lại mỗi khi tâm thức đánh mất sự chú tâm thì tức khắc sự đau đớn và các chứng đau đầu (các sự suy nghĩ và lo sợ) sẽ hiện ra. Sau một thời gian tập luyện thiền định, tôi học được phép lắng sâu vào một thể dạng mà mình không còn cảm nhận được thân xác của mình nữa mà chỉ duy nhất cảm thấy một sự an bình tỏa rộng. Sau khi vừa xuất ra khỏi thể dạng lắng sâu ấy thì tôi nhận thấy một hiện tượng khá bất ngờ: dường như đàn muỗi bám trên hai cánh tay tôi đều ngủ say, bởi vì chẳng có một con nào đốt tôi nữa.
 Lúc bấy giờ tôi cứ nghĩ rằng thiền định có khả năng giúp thân xác chống lại sự ngứa ngáy [vì bị muỗi đốt], thế nhưng vài năm sau đó thì tôi mới vỡ lẽ ra là muỗi đánh hơi được mình là nhờ vào khí carbon điôxít (CO²) tiết ra từ các lỗ chân lông. Vì thế nếu sự hoạt động sinh học của cơ thể càng mạnh thì muỗi càng dễ nhận biết được sự hiện diện của mình. Dưới một khía cạnh khác thì nếu mình càng lo sợ, căng thẳng và bực bội vì bị muỗi đốt thì đấy sẽ là cách càng nói lên với chúng: "Cứ đến đây! Tao đang ở đây này!". Trái lại nếu chúng ta tạo được sự thư giãn và buông xả hoàn toàn, thì các sinh hoạt sinh học cũng theo đó mà giảm xuống và đàn muỗi cũng sẽ khó nhận biết được sự hiện diện của mình. Trong lúc hành thiền tôi luôn phát huy sự thư giãn và an bình, không quan tâm đến bất cứ gì xảy ra, ngoại trừ việc chú tâm vào hơi thở, do đó các sự sinh hoạt sinh học cũng giảm xuống... và cũng chính nhờ đó mà tôi đã trở thành vô hình đối với đàn muỗi! Sở dĩ chúng không còn đốt tôi nữa là vì chúng không còn trông thấy tôi ở đâu cả. Quả đấy là một bài học đáng quan tâm. Đàn muỗi tập cho tôi biết thiền định và đồng thời cũng giúp tôi nhận thấy ảnh hưởng tích cực của thể dạng thư giãn đối với các sự bực dọc và đau đớn.
 Khi nào tạo được sự thư giãn thì các sự căng thẳng cũng sẽ tan biến hết. Mỗi khi cảm nhận được một sự đau đớn xảy ra ở một chỗ nào đó trên cơ thể thì thay vì nên hình dung ra sự đau đớn ấy và hướng nó vào một bầu không gian thật rộng lớn hầu loại bỏ nó, thì người ta lại dồn tất cả tâm thần của mình vào đúng chỗ đau ấy. Cách hành xử đó chỉ khiến cho các tác động tiêu cực trở nên mạnh mẽ hơn. Tốt nhất nên phân tán các giác cảm đau đớn ra khắp thân thể, có nghĩa là hành xử ngược lại với thói quen thường thấy là tìm cách khử trừ nó.
 Tại sao tôi lại phải phân tán sự quặn đau trong bao tử của tôi ra khắp thân thể: từ hai tay đến hai chân và lên đến cả đầu? Bởi vì mỗi khi phát huy được một sự tỏa rộng thì mình cũng sẽ buông xả được mọi sự căng thẳng. Nếu được phân tán rộng ra thì sự đau đớn cũng sẽ trở nên nhẹ đi và bớt gay gắt hơn. Khi bắt đầu phát huy sự tỏa rộng ấy (một hình thức thiền định) thì người ta sẽ cảm thấy sự đau đớn biến thành một khối nước đá và sau đó là một đám mây trên trời, đám mây càng lúc càng trở nên nhẹ hơn và tỏa rộng ra cùng khắp vũ trụ, và sau cùng sẽ trở nên thật mỏng rồi tan biến hết. Theo tôi thì đấy là một phương pháp thật hữu hiệu giúp mình vượt lên trên sự đau đớn, bởi vì đau đớn không hề là một thể dạng đi ngược lại với [sự chuyển động chung của] mọi sự vật mà trái lại luôn phù hợp với bản chất [tự nhiên] của chúng (sự đau đớn cũng là một hiện tượng - dharma - như tất cả các hiện tượng khác, không nên tìm cách chống lại sự vận hành tự nhiên của nó mà phải thỏa hiệp với nó, cùng chuyển động với nó, và nhờ đó mình sẽ nhận thấy nó liên hệ với mình nhưng không phải là thuộc của mình và cũng không phải là chính mình).
 Mỗi khi tập trung sự chú tâm vào hơi thở thì quý vị cũng sẽ cảm thấy sự đau đớn thuộc bên ngoài [hơi thở]. Tôi thường so sánh hiện tượng này với màn ảnh của chiếc máy truyền hình: mỗi khi bắt đầu mở máy thì quý vị sẽ trông thấy cả cái khung bao quanh màn ảnh, và quý vị cũng có thể trông thấy cả bức tranh treo bên trên máy truyền hình và biết đâu cả chiếc máy đọc DVD đặt bên dưới máy truyền hình nữa. Thế nhưng vài phút sau thì quý vị không còn trông thấy (để ý đến) cái khung của màn ảnh nữa, và quý vị cũng sẽ không trông thấy cả bức tranh cũng như chiếc máy đọc DVD. Quý vị không còn nhận biết được những gì xảy ra chung quanh màn ảnh của chiếc máy truyền hình nữa. Tất cả những gì mà quý vị trông thấy chỉ là các hình ảnh [hiện ra trên màn ảnh của máy truyền hình].
 (Sự kiện đó biết đâu cũng có thể giúp mình tiết kiệm được khá tiền! Ngày nay người ta thích mua máy truyền hình với màn ảnh phẳng thật to, thế nhưng trên thực tế thì dù là với một chiếc máy truyền hình có màn ảnh to hay một máy truyền hình thuộc loại xách tay với màn hình nhỏ hơn, thì các hình ảnh hiện ra trong tâm thần của quý vị cũng giống như nhau. Sự nhận thức khi đã tập trung vào một hình ảnh nào đó thì nó cũng sẽ trở thành một với hình ảnh ấy (xin lưu ý đây cũng là nguyên tắc về phép quán tưởng trong Kim Cương Thừa: quán tưởng cực mạnh vào một vị thần linh sẽ trở thành chính vị thần linh ấy)! Do đó không cần phải tốn kém để mua một màn ảnh thật to!). Những điều tôi nêu lên với quý vị thuộc vào lãnh vực tâm lý nhưng cũng là sự thật. Nếu quý vị nắm vững được sự kiện ấy thì tất quý vị cũng sẽ học được thêm một phương cách thứ hai giúp mình vượt thoát khỏi sự đau đớn: tức là cách chú tâm vào một đối tượng khác hơn và đặt đối tượng này của sự chú tâm vào bên trong tri thức của chính mình. Tôi luyện tập thiền định đã nhiều năm và tôi luôn đặt hơi thở vào tâm điểm của sự chú tâm của tôi..., và đối với sự đau đớn thì tôi đặt nó ra bên ngoài (hơi thở của tôi)! Tất nhiên là sự đau đớn lúc nào cũng hiện diện thế nhưng nó chỉ thuộc bên ngoài. Tiếp theo đó quý vị cứ tiếp tục duy trì sự chú tâm, thật kiên trì và vững vàng, càng được lâu càng tốt, cho đến một lúc nào đó - quý vị không biết đấy là lúc nào, thế nhưng quý vị biết chắc là nó đã xảy đến với mình - thì các giác cảm đau đớn bỗng tự nhiên biến mất. Tôi nghĩ rằng sự kiện ấy đã từng xảy ra với tôi khi tôi còn là một sinh viên trẻ và trong lúc đang nghe đĩa nhạc mà tôi yêu thích. Tôi chăm chú nghe nhạc đến độ mà các giác cảm đau đớn của tôi hoàn toàn biến mất.
 Đôi khi sự đau đớn cũng có thể quá mạnh và mình có cảm giác là không sao có thể tách rời ra khỏi nó được - thật vậy sớm muộn một ngày nào đó mỗi người trong chúng ta đều sẽ phải đối đầu với một sự đau đớn cực mạnh như thế. Trong trường hợp này chúng ta sẽ không thể hòa nhập với nó được mà phải tìm cách trốn chạy. Tôi không ngụ ý nói đến các thể dạng đau đớn đại loại như cảm cúm hay đau bụng, mà là những thứ đau đớn kinh niên, rất khó để làm cho chúng biến mất. Đấy là những thứ khổ đau dai dẳng, kéo dài hết giờ này sang giờ khác, mà y khoa phải bó tay không sao làm giảm bớt được. Nếu quý vị còn nhớ những gì tôi giải thích trên đây về hai thể dạng khác nhau của sự đau đớn, thì tất quý vị cũng sẽ đoán được sự đau đớn ấy là gì? Có hai thứ đau đớn khác nhau: một trong tâm thần và một trên thân xác. Khổ đau trong tâm thần là thứ khổ đau khiến chúng ta phải thốt lên: "Tôi đau khổ quá nhiều rồi. Này khổ đau ơi, mi hãy cút đi thôi! Tại sao tôi lại phải gánh chịu những đớn đau như thế này?". Thật ra thì thái độ hành xử đó chỉ khiến cho sự đau đớn trở nên trầm trọng và nặng nề hơn mà thôi. Nếu quý vị đã thực sự thành công trong việc buông xả và loại bỏ được các sự đề kháng trong tâm thức mình, thì việc đối đầu với các thứ đau đớn trên thân xác sẽ hết sức dễ dàng. Thật vậy, đối với các khó khăn do hai thể dạng khổ đau trên đây mạng lại, thì chín mươi phần trăm là do các phản ứng tâm thần tạo ra, mười phần trăm còn lại là do các sự đau đớn trên thân xác.
 Do đó khi nào việc đối đầu với các khổ đau tâm thần đã bắt đầu mang lại hiệu quả thì tất nhiên chúng ta cũng sẽ thực hiện được rất nhiều tiến bộ trong việc mang lại cho mình sự an bình, giúp mình tận hưởng sự vui sống, có nghĩa là không còn phải thường xuyên sống trong tình trạng đề kháng và căng thẳng thần kinh. Chúng ta phải luôn tự nhắc nhở: "Tôi phải hành xử ra sao trước sự đau đớn của tôi? Tôi phải phản ứng bằng cách nào? Tôi phải giữ thái độ như thế nào đối với các giác cảm đau đớn ấy?"
 Chúng ta thường tự nhủ như sau: "Đau đớn không được phép xảy đến với tôi, chuyện đó không thể xảy ra ra được", chính vì thế nên đôi khi chúng ta cũng có thể sẽ cảm thấy mình là kẻ phạm tội (nói dối). Do đó tôi cũng thường hay bày ra một vài phương cách trắc nghiệm. Trong một buổi họp tôi nêu lên câu hỏi như sau: "Trong số quý vị ngồi đây, nếu có vị nào chưa từng biết đau ốm là gì thì xin đưa tay lên!". Không có một người nào đưa tay lên cả. Thật vậy, thỉnh thoảng tất cả chúng ta cũng đều đau ốm, chuyện ấy thật hết sức bình thường - dù cho các xã hội tân tiến ngày nay chối bỏ mọi bệnh tật và [gián tiếp] tạo ra cho chúng ta cảm tính là nếu như bệnh tật [chẳng may] xảy đến với mình thì đấy là một sự bất bình thường, và đấy cũng chính là lý do giải thích thái độ [sai lầm] của chúng ta đối với sự đau đớn, bệnh hoạn và các khó khăn [tâm thần] (chúng ta không chấp nhận sự đau đớn, bệnh tật và các đớn đau tâm thần như là những hiện tượng hoàn toàn tự nhiên và bình thường): chúng ta xem các thứ ấy là những gì thật xấu xa từ căn bản, và đấy chính là một sự sai lầm rất lớn của chúng ta (câu này mang ý nghĩa rất quan trọng: chúng ta xem sự đau đớn và bệnh tật là những gì lệch lạc và xấu xa, là nguyên nhân mang lại mọi thứ tai hại cho mình. Thế nhưng đau đớn và bệnh tật nào có gì là xấu xa đâu, đấy cũng chỉ là những gì do mình muốn và do mình gây ra cho mình thế thôi - tức là nghiệp của mình do chính mình tạo ra cho mình. Dưới một khía cạnh khác thì đau đớn, bệnh tật và các khó khăn tâm thần cũng chỉ là các hiện tượng - dhamma/dharma - tương tự như tất cả các hiện tượng khác trong vũ trụ. Nếu cho rằng mọi hiện tượng đều hàm chứa Bản Thể của Phật, thì đớn đau, bệnh hoạn và các khó khăn tâm thần của mỗi người trong chúng ta cũng đều hàm chứa Phật Tính hay Chân Như. Nếu hiểu được như thế thì các xúc cảm trong tâm thức và thái độ của mình trước những khổ đau của riêng mình và cả của kẻ khác sẽ trở nên khác hơn).  
 Những người mang bệnh ung thư thường cảm thấy mình phạm vào một sự lầm lỗi nào đó. Tại sao chúng ta lại cứ có cái cảm giác tội lỗi ấy về những sự đau đớn và bệnh tật xảy đến với mình trong cuộc sống? Những nỗi khổ đau tâm thần ấy chỉ là những gì được đem ghép thêm vào các hiện tượng xảy ra một cách thật tự nhiên. Dù quý vị chỉ ăn gạo lứt, chăm lo thiền định, tập thể dục đều đặn và ăn toàn rau trái, thế nhưng không phải vì thế mà quý vị sẽ không bị ung thư và tránh khỏi cái chết!
 Trước khi xuất gia, tôi thường xuyên tập luyện du-già (yoga) và mỗi tuần đều theo dõi chương trình truyền hình về phép luyện tập này. Người hướng dẫn có thân hình thật mềm dẻo và sức khoẻ thật tốt, thế nhưng sáu tháng sau khi được thụ phong tỳ kheo thì tôi hay tin người này qua đời vì chứng nhồi máu cơ tim. Quả hết sức khó tin, bởi vì trước đó người này hoàn toàn khoẻ mạnh! Tiếc thay bệnh tật và đau đớn là thành phần bất khả phân của sự sống, vì thế nếu các thứ ấy có xảy ra với mình thì dù có tạo ra thêm các cảm giác tội lỗi trong tâm thần - tức là xem đấy như là một thứ gì đó không suôn sẻ và không được phép xảy đến với mình - thì cũng sẽ chẳng hề mang lại một chút lợi ích nào cho mình cả. 
 Nếu quý vị là những người thường xuyên đến đây (tức là tại giảng đường này) thì tôi xin quý vị không nên nói với vị bác sĩ của mình như thế này: "Tôi không được khoẻ lắm: tôi đang đau đúng vào chỗ này/tôi cảm thấy đang ốm nặng", mà phải nói như sau: "Tất cả thật bình thường, tôi lại ốm đau nữa rồi bác sĩ ạ" (cười). Khi nào quý vị còn nuôi dưỡng thái độ tiêu cực đối với sự đau đớn, thì đấy cũng chỉ là cách mà quý vị biến nó trở thành nặng nề hơn thế thôi. Hãy tự nhắc nhở mình là ốm đau là chuyện bình thường, bị ung thư là chuyện bình thường, mọi người đều chết là chuyện bình thường, thỉnh thoảng nếu cảm thấy đau đớn đôi chút thì cũng là chuyện bình thường. Không nên nghĩ rằng các chuyện ấy là bất-bình-thường hay là một sự sai lầm, và cũng không nên nghĩ rằng đấy là một sự xấu xa. Từ bên trong tâm thức mình, hãy chấp nhận thể dạng [tự nhiên] ấy của sự sống và nghĩ rằng mình thừa sức để đối phó với nó và chủ động nó. Nên hiểu rằng trốn tránh là một cách quay lưng lại với thể dạng ấy, và một khi đã quay lưng lại với nó thì tất quý vị sẽ không sao nhận ra được những gì khiến mình phải bỏ chạy! Chỉ khi nào đối đầu với khó khăn thì mình mới có thể nhìn thấy nó, và nếu có trông thấy nó thì mình mới có thể khám phá ra những gì thật diệu kỳ giúp mình có thể khắc phục được nó, vượt lên trên nó và loại bỏ nó, hầu mang lại sự giải thoát cho chính mình.
 Nếu đối đầu với sự đau đớn thì mình mới ý thức được các khó khăn do nó mang lại, và hình dung được sự sợ hãi tâm thần thật nặng nề mỗi khi phóng tưởng vào tương lai: "Tôi sẽ không còn lưu lại chốn này lâu dài nữa". Quý vị đang hiện diện nơi này, ngay trong giây phút này, thế nhưng những gì khiến cho sự đau đớn không sao kham nổi chính là ý nghĩ cho rằng nó sẽ còn tiếp tục từ phút giây này sang phút giây khác, từ giờ này sang giờ khác và từ ngày này sang ngày khác (nghĩ rằng căn bệnh sẽ không bao giờ lành). Chính sự chuyển động tâm thần hướng vào tương lai là nguyên nhân khiến cho sự đau đớn trở nên không sao chịu đựng nổi. Đôi khi sự hồi tưởng về những nỗi đớn đau trong quá khứ cũng có thể khiến cho mình lo sợ, vì nghĩ rằng biết đâu chúng sẽ lại tái diễn trong tương lai. Cứ mỗi lần nhìn vào những giây phút hiện tại thì mình lại dựa vào những gì đã xảy ra trong quá khứ hoặc những gì mang lại bởi các sự phóng tưởng vào tương lai, và cứ mỗi lần như thế thì các sự đau đớn tâm thần xảy ra - mà quý vị [cố tình] làm gia tăng thêm - sẽ tạo ra cho mình một tình huống thật nặng nề. Tuy nhiên chúng ta cũng có thể hành xử khác hơn, tức có nghĩa là phải tập dừng lại trong giây phút hiện tại với sự đau đớn trên thân xác đúng vào những giây phút ấy. Trước đây tôi cũng đã có dịp kể cho quý vị nghe một câu chuyện với chủ đề trên đây về một vị tỳ kheo trong ngôi chùa của chúng tôi. Ông ta có hai hàm răng trong tình trạng hư hỏng cả. Thật ra tôi cũng không hiểu được tâm trạng của ông ta ra sao, chỉ biết rằng ông ta chán ngấy việc chầu chực các vị bác sĩ nha khoa. Một hôm ông ta bất thần tự mình nhổ bật một chiếc răng. Chúng tôi hỏi ông ta: "Tại sao lại làm như thế?", ông ta trả lời: "Khi đã quyết định tự làm một mình, thì sẽ chẳng có gì là khó khăn cả. Tôi chỉ cảm thấy đau trong hai giây và ngay sau đó thì hết!" (nhờ người khác giải quyết sự đau đớn của mình thì phải cầu cạnh và chờ đợi, và cũng chỉ là một cách kéo dài thêm sự đau đớn của mình mà thôi. Đấy là chưa nói đến những thứ khổ đau tâm thần kèm theo sự chờ đợi và cầu cạnh đó mà mình có thể tạo ra thêm cho mình. Tự giải quyết sự đau đớn của mình bởi quyết tâm của mình sẽ nhanh chóng và dứt khoát hơn. Câu chuyện tuy đơn giản và khá dí dỏm thế nhưng rất sâu sắc).
Ý nghĩ phải nhổ một cái răng cũng đã làm cho mình sợ hãi: sợ ngay từ lúc còn đang trên đường đến phòng nha khoa, chỉ cần nghĩ đến là tí nữa đây mình sẽ phải nhổ răng thì gương mặt cũng đã nhăn lại. Điều này cho thấy là mình đang phải đối đầu với sự đau đớn thuộc lãnh vực tâm thần, bởi vì ngay trong lúc đó thì mình chưa cảm thấy gì cả (chưa đến phòng nha khoa). Ý thức được sự kiện đó là cách giúp mình nhận thấy vai trò của tâm thần thật là quan trọng: hai giây đau đớn không nghĩa lý gì so với hàng giờ chờ đợi và lo sợ trước khi đến lượt mình ở phòng nha khoa, có đúng thế hay không? Điều đáng lưu ý đối với sự đau đớn trên thân xác là người ta không thể biết được là nó sẽ diễn tiến như thế nào từ phút này sang phút khác. Nhiều người tham dự các khóa thiền định rất ngạc nhiên khi nhận thấy mình đạt được nhiều kết quả thật bất ngờ, hoặc nhận thấy các sự đau đớn thật gay gắt của mình bỗng nhiên tan biến hết. Các kinh nghiệm đầu tiên của tôi về sự kiện này là có một lần tôi đau răng khủng khiếp - tất nhiên là tôi cũng đau răng như tất cả mọi người khác - và cũng chính trong dịp này tôi đã nhận thấy được sức mạnh vô biên của tâm thức. Một cơn đau thật khiếp đảm, có thể nói là khiếp đảm nhất trong cuộc sống của tôi. Lúc đó tôi đang tu học trong một ngôi chùa giữa rừng sâu: không điện thoại, không nha sĩ, một viên thuốc aspirin cũng không có. Chỉ biết là phải chịu đựng thế thôi. Đến đêm sau khi mọi người đã đi ngủ, cơn đau lại càng hoành hành gay gắt hơn nữa. Không sao ngủ được, tôi cố gắng ngăn chận cơn đau bằng phép tập trung vào hơi thở. Tôi phát huy sự chú tâm thật mạnh, thế nhưng cơn đau cũng quá mạnh, nó cứ tiếp tục gõ vào cánh cửa của tri thức tôi. Sau khoảng nửa giờ thì tôi không còn chịu đựng được nữa, tôi bước ra ngoài để thiền hành, thế nhưng chỉ đi được vài phút thì tôi phải phóng chạy! Không sao giữ được sự trầm tĩnh! Sau cùng thì tôi "hát vang", tôi tụng thật to các bài kinh bằng tiếng Pa-li.
 Dầu sao thì tôi cũng phải thú nhận rằng lúc ấy tôi mới vừa được thụ phong tỳ kheo được một hay hai năm gì đó, và trước đó thì tôi cũng vừa rời khỏi phòng thí nghiệm vật lý ở đại học Cambridge, và tất nhiên là lúc bấy giờ với tư cách một người trí thức, tôi không hề tin vào các chuyên dị đoan mang tính cách "thiêng liêng", và cho đấy chỉ là những thứ ngu ngốc của những người Phật Giáo tầm thường (nay thì đã khác). Thế rồi tôi cứ tiếp tục hát vang - thật thế khi đã rơi vào cảnh tuyệt vọng thì người ta có thể làm bất cứ chuyện gì! Sau vài phút thì tôi không còn hát được nữa mà phải thét lên với tất cả hơi sức của mình! Trong cuộc sống không sao tránh khỏi những lúc tuyệt vọng khi sự đau đớn vượt hơn cả sức chịu đựng của mình. Tuy không còn biết phải làm gì thế nhưng người ta vẫn còn đủ sức để tự nhủ rằng tôi không sao chịu đựng lâu hơn được nữa (nếu vẫn còn đủ sức để tự nhủ rằng không sao chịu đựng được lâu hơn nữa thì cũng có nghĩa là mình vẫn còn đang đủ sức chịu đựng để thực hiện một cái gì đó). Chính những giây phút đó trong cuộc sống sẽ thật hết sức hệ trọng, bởi vì đấy có thể là chiếc chìa khóa mang lại cho mình sự bừng tỉnh tâm linh. Tôi bỗng nghĩ đến những lời của thầy tôi là Ajahn Chah mà tôi cũng đã có dịp lập đi lập lại trong giảng đường này: "Hãy xả bỏ! Hãy cứ buông ra!". Đôi khi trong cuộc sống người ta phải chiến đấu chống lại một bức tường, chống lại một sự đau đớn, và chỉ còn lại một giải pháp cuối cùng là buông ra, buông xả tất cả. Tôi xin kết thúc câu chuyện bằng sự buông xả đó của tôi - một sự buông xả thật sự. Chỉ vài giây sau khi tôi buông xả thì cơn đau của tôi bỗng nhiên biến mất. Cứ như là một phép lạ, tôi không còn cảm thấy một chút đau đớn nào nữa. Thay vào đó, hiện ra một sự an bình kỳ diệu. Chẳng phải là một kinh nghiệm tuyệt vời hay sao! Khi đã buông xả được một cách thật sự thì kết quả sẽ hiện ra ngay. Đang trong giây phút này thì mình đang đau đớn khủng khiếp, thế nhưng bước sang giây phút sau đó... thì không còn một chút đau đớn nào nữa cả! Tôi bèn ngồi xuống để thiền định hầu kéo dài thể dạng an bình ấy.
 Tôi cũng xin nêu lên một điều thật quan trọng liên quan đến câu chuyện trên đây, chẳng qua là vì có nhiều người cho biết rằng họ buông xả - "Tôi buông xả! Đúng thật là như thế, tôi buông xả hết!!! (họ hét to lên với tôi như thế) - thế nhưng chẳng mang lại một kết quả nào cả". Họ phàn nàn: "Này ông Ajahn Brahm, tôi làm đúng theo lời ông bảo thế nhưng chẳng có hiệu quả gì. Toàn là những chuyện thêu dệt". Không, tôi không bịa chuyện đâu, đúng thật là như thế. Vấn đề là quý vị không buông xả một cách thật sự đấy thôi, quý vị chỉ mang ra sử dụng một kỹ thuật mới lạ mà quý vị vừa học được để tìm cách giúp mình loại bỏ sự đau đớn (buông xả phải phát sinh từ lòng từ bi trong đáy tim mình và trong nơi sâu kín nhất của tâm thức mình. Sự buông xả không phải là một phương tiện hay một kỹ thuật mà mình có thể học được từ bên ngoài. Cũng tương tự như thế, việc hành thiền phải được thúc đẩy bởi lòng từ bi của mình đối với chúng sinh và cả chính mình, hành thiền không phải là một kỹ thuật hay một "phép" luyện tập với mục đích mang lại sư an lạc và sức khoẻ, đấy chỉ là cách nuôi dưỡng cái tôi của mình cho béo phì thêm mà thôi). Buông xả không đơn giản là một hành động mà còn phản ảnh cả một thái độ hành xử giúp mình chủ động sự đau đớn. Nếu thật lòng muốn buông xả thì phải đủ sức để nói lên chẳng hạn như thế này : "Đau đớn ơi, nếu muốn thì bạn cứ lưu lại với tôi mãi mãi nhé!" - và phải hiểu được thật sự ý nghĩa của câu nói ấy là gì (khi nào chưa hội nhập được với sự đau đớn, thì nó vẫn còn là một đối tượng của tâm thức mình, là một thứ gì đó thật xấu xa, khác với mình và là... kẻ thù của mình. Khi nào sự đau đớn đã trở thành người bạn của mình và cũng là chính mình, thì khi đó mình mới có thể thân thiện với nó được). "Bạn cứ gay gắt hơn nữa nếu bạn muốn và dù bạn có đối xử với tôi như thế nào, thì cánh cửa của con tim tôi luôn mở rộng để đón chào bạn. Bạn cứ lưu lại với tôi, cứ gay gắt với tôi đi..., tôi xin được chào đón bạn". Điều này rất khó thực hiện, bởi vì nó đòi hỏi chúng ta thật nhiều can đảm và cả lòng từ bi - đó là lòng từ bi đối với sự đau đớn - hầu giúp mình đón nhận nó như là thành phần của sự sống [của chính mình]. Chuyện ấy hoàn toàn không có gì là bất-bình-thường cả. Tại sao mình lại phải thù ghét sự đau đớn để mà thét lên: "Tao không còn muốn nhìn thấy mặt mày một tí nào nữa". Nếu quý vị muốn cho khổ đau được giữ cái quyền hiện hữu của nó, thì quý vị cứ để cho nó đến với quý vị và lưu lại với quý vị: đấy mới đúng là cách giúp quý vị buông xả thành phần tâm thần của sự đau đớn. Đấy là cách buông xả bản chất tiêu cực của sự đau đớn luôn đi đôi với sự ta thán, và nhờ đó tâm thức sẽ được giải tỏa, thân xác được thư giãn và đau đớn sẽ tan biến hết. Quả là một kinh nghiệm kỳ thú. Nếu thực hiện được kinh nghiệm ấy một lần, thì tất nhiên sau đó mình cũng sẽ hiểu được dễ dàng hơn là phải làm thế nào để kiểm soát sự đau đớn trong trường hợp không còn cách nào khác hơn. Tóm lại là mỗi khi cảm nhận được sự đau đớn thì không nên tìm cách chống lại nó - bởi vì đấy chỉ là cách tạo ra thêm sự căng thẳng và làm gia tăng thêm sức mạnh tiêu cực - mà phải buông xả nó, làm thân với nó, đối xử tử tế với nó. Chẳng phải là chúng ta có thừa lòng từ bi hay sao (nếu sự đau đớn - tức là nghiệp tiêu cực của mình - quá nặng thì phải biết yêu thương nó, thoả hiệp với nó và xem nó là bạn của mình, đấy là cách hóa giải sự tệ hại của nó. Tìm cách chống lại nó và xem nó là kẻ thù chỉ là cách tạo ra cái vòng xoay vần bất tận của sự hiện hữu, trói buộc mình với nó).
 Nếu quý vị thực hiện được điều ấy một cách đúng đắn thì nhất định quý vị sẽ phải kinh ngạc trước các kết quả mang lại. Thành phần tâm thần của sự đau đớn luôn là thành phần gay go nhất phải chịu đựng. Dầu sao thì một ngày nào đó quý vị cũng sẽ không tránh khỏi sự đau đớn đưa đến cái chết của quý vị. Chẳng phải là quý vị rồi cũng sẽ chết hay sao? Đối với phần đông quý vị thì giây phút đó quả thật là không thú vị chút nào. Thế nhưng nếu quý vị tập nhìn thẳng vào sự đau đớn ngay từ bây giờ thì quý vị sẽ mang lại cho mình một cái chết thật êm thắm và thanh thản sau này. Dù đang phải gánh chịu sự đau đớn thế nhưng quý vị vẫn mỉm cười, vẫn quý trọng sự sống và vẫn tiếp tục tận hưởng những phút giây cuối cùng bên cạnh những người thân. Tôi đã từng chứng kiến cảnh tượng đó nhiều lần, nhất là đối với những người hành thiền nắm vững được một ít hiểu biết về Dhamma (Đạo Pháp) (tức là giáo huấn của Đức Phật và cũng có nghĩa là quy luật thiên nhiên, hay là sự thật đang bao quanh chúng ta) và ý thức được là tâm thức và thân xác luôn liên hệ với nhau. Một vài người trong số họ ở trong tình trạng sắp lìa đời thế nhưng các bác sĩ chữa trị không hề biết được những gì đang xảy ra trong tâm thức họ. Họ đang tận hưởng những giây phút cuối cùng của đời mình một cách thật an bình. Chẳng phải là tuyệt vời hay sao khi được chứng kiến cảnh tượng như thế. Những gì xảy ra trước mặt mình thật đáng khích lệ và đồng thời cũng cho thấy những gì mà tâm thức có thể thực hiện được. Tôi xin kể cho quý vị nghe về câu chuyện của một trong các vị anh hùng trong lịch sử mà tôi rất ngưỡng mộ. Vị này không phải là một người Phật Giáo mà là Thiên Chúa Giáo, đó là Thánh Laurent. Tôi rất yêu quý vị này vì thái độ rất quyết liệt và không tuân theo các giáo điều có sẵn (Thánh Laurent: cha mẹ gốc người Pháp sinh ở Tây Ban Nha vào năm 210 hay 220. Đi tu tại thành phố Zaragoza cũng ở Tây Ban Nha và trong dịp này ông gặp được Giáo Hoàng Sixtus II. Ông được Giáo Hoàng phong chức phó tế và được giao phó trọng trách quản lý kho tàng của Giáo Hội Thiên Chúa La Mã. Bất thần vào năm 257 hoàng đế La Mã là Valerianus ban hành một loạt sắc lệnh ngược đãi người Thiên Chúa Giáo trên toàn thể đế quốc La-Mã thời bấy giờ, tức bao gồm hầu hết Âu Châu và vùng Địa Trung Hải. Giáo Hoàng Sixtus II và ông, cả hai đều bị bắt. Đức Giáo Hoàng bị giết ngay, thế nhưng người La-Mã tạm tha cho Laurent chờ tịch biên xong kho tàng của Nhà Thờ. Ông bèn lén đem hết kho tàng bố thí cho người nghèo. Ông bị xử tử bằng cách nướng trên một vĩ sắt. Mạn phép dài dòng là vì bài giảng này là cho người Tây Phương mà phần đông đều biết về câu chuyên trên đây. Thánh Laurent được mệnh danh là vị Thánh của người nghèo khổ. Không giữ được của thì cho người nghèo!). Thời bấy giờ những kẻ như ông ta tất khó mà tránh khỏi tai họa. (Cứ như tôi đây mà sống vào thời ấy, và nói lên những gì như tôi thường nói với quý vị vào mỗi tối thứ sáu như hôm nay, thì có lẽ tôi cũng chẳng sống lâu được!). Vậy hãy xem vị Thánh Thiên Chúa Giáo đáng kính bị nướng trên vĩ sắt như thế nào. Dầu sao thì chúng ta cũng sẽ chẳng bao giờ có dịp nếm thử những sự đau đớn ấy (ngày nay người ta xử tử nhân đạo hơn, chẳng hạn như bằng cách bắn, chặt đầu, thắt cổ hay tiêm thuốc vào mạch máu..., như thế chết nhanh hơn và ít đau đớn hơn). Quý vị có bao giờ bị phỏng tay hay chưa? Quý vị còn nhớ sự đau đớn ấy như thế nào không? Hãy tưởng tượng xem sự đau đớn ấy sẽ nhân lên gấp bao nhiêu lần nếu quý vị bị nướng trên vĩ sắt. Quý vị tất sẽ phải đau đớn rất nhiều. Thế nhưng con người ấy vẫn hoàn toàn giữ được khả năng tâm thần và một sự thanh thản thật đáng phục. Trước khi bất tỉnh ông ta còn kêu lên như sau: "Lật tôi sang bên khác, bên này đã chín rồi!". Tôi chỉ còn biết nói lên sự kính phục của tôi đối với con người ấy thế thôi, không phải chỉ vì ông đã vượt lên trên sự đau đớn thân xác mà còn vì lòng từ bi của ông ta nữa: ông đã nói lên một lời khôi hài cuối cùng giúp cho những kẻ nghèo khổ đang bao chung quanh được thư giãn (xử tử bàng cách "tùng xẻo" của các vua chúa Đông Phương cũng chẳng thua kém gì).
 Câu chuyện đã xảy ra như thế, tuy nhiên chúng ta cũng có thể tự hỏi là có thể tin được hay chăng? Theo những gì mà tôi đã trình bày trên đây thì tôi nghĩ rằng khi nào tạo được một sự thư giãn thật sự thì mình cũng sẽ buông bỏ được sự sợ hãi tâm thần. Tiếp theo đây tôi sẽ nêu lên một khía cạnh tác động khác của thiền định đối với sự đau đớn: khi tâm thần không căng thẳng thì các luồng luân lưu trong cơ thể sẽ luân chuyển dễ dàng hơn, giúp khai thông bất cứ một sự bế tắc nào. Theo sự hiểu biết của tôi về kinh sách Phật Giáo xưa - mà tôi vẫn thường xuyên đọc - thì Đức Phật có nói đến các dòng luân lưu trong cơ thể. Khi các dòng luân lưu này bị bế tắc, thì các khó khăn sẽ xảy ra ngay; các y sĩ của ngành y học cổ truyền Ấn Độ cũng có nói đến hiện tượng này. Tôi có đọc một bài viết nói về vị y sĩ của Đức Đạt-lai Lạt-ma được một bệnh viện ở Mỹ mời đến để trắc nghiệm. Các khoa học gia muốn tìm hiểu về phương pháp chẩn bệnh của ngành y học cổ truyền Ấn Độ. Họ nhờ ông chẩn đoán bệnh cho một số người nhưng không hé răng cho ông biết trước là họ bệnh như thế nào, thế nhưng kết quả do ông đưa ra thật chính xác, chỉ khác trên phương diện thuật ngữ mà thôi. Ông cho biết là các dòng khí lực của người bệnh bị bế tắc ở các điểm nào trong cơ thể. Y học cổ truyền của Trung Quốc gọi các điểm này là "chi" (còn viết là "qi").
 Mỗi khi ốm đau thì các kinh mạnh dẫn truyền khí lực bị bế tắc, thế nhưng nếu quý vị lại còn tạo ra thêm tình trạng căng thẳng thì cũng chỉ là cách làm cho chúng bị bế tắc thêm. Sở dĩ quý vị không tạo được cho mình sự thư giãn là vì quý vị luôn tìm cách chống lại các sự đớn đau trong cuộc sống, do đó các quá trình chữa lành tự nhiên của cơ thể không sao tiến hành thuận lợi được. Thế nhưng cũng có thể hành xử ngược lại (tức là tạo ra sự thư giãn). Nhiều lần tôi đã chứng nghiệm được sự kiện này trong khi hành thiền (khai thông kinh mạch bằng thiền định). Trong các khoá ẩn cư tôi thường bảo với các người tham dự hãy cố gắng tạo cho mình một sự thư giãn thật sự và đúng nghĩa của nó trước khi hành thiền. Không bao giờ được hành thiền với một sự ép buộc, phải thật nhẹ nhàng và cởi mở, phải mở rộng hai cánh cửa của con tim mình. Nhiều người tham dự cho biết là họ cảm thấy hiện ra một số các điểm tỏa nhiệt trong cơ thể. Sự kiện đó thật hết sức kỳ thú. Một hôm có một phụ nữ tham dự hỏi tôi: "Việc hành thiền của tôi diễn tiến một cách thật thanh thản, thế nhưng không hiểu tại sao lưng tôi bỗng nhiên nóng rực lên?". Tôi hỏi lại bà ấy: "Vậy trước đây bà có từng bị đau lưng hay không?". Bà này vô cùng ngạc nhiên: "Này Thầy Ajhan Brahm, vậy thì ông đọc được sự suy nghĩ trong đầu tôi rồi. Tại sao ông lại biết là cách nay hai năm tôi bị tại nạn lưu thông?". Tôi nào có đọc được sự suy nghĩ của bà ấy đâu! Sự thật là như thế này. Quý vị bị chấn thương ở lưng, thế nhưng quý vị lại không tạo ra được một sự thư giãn cần thiết để giúp cơ thể tự chữa lành lấy nó. Trong khi ẩn cư và nhờ vào việc hành thiền bà ấy tạo được cho mình sự thư giãn giúp cho khí lực của cơ thể dồn vào chỗ đau, vì thế nên bà ấy cảm thấy nóng ran. Sau khi các sự cảm nhận ấy (cảm giác nóng ran) xảy ra thì các người hành thiền thường cho biết thêm là họ cảm thấy rất dễ chịu; tóm lại đấy là quá trình chữa lành tự nhiên của cơ thể. Khi nào quý vị thật sự thực hiện được thể dạng buông xả thì sự đau đớn và các khó khăn khác cũng sẽ gỉảm dần và tan biến hết (khi đã tạo được sự "thư giãn" hay thực hiện được "thể dạng định"/samatha, tức là một thể dạng "hòa nhập" thì bất cứ gì cũng có thể xảy ra với người hành thiền: từ sự lâng lâng, sảng khoái, thanh thản, đến các cảm giác phúc hạnh, kể cả các ảo giác đủ loại..., thế nhưng đấy cũng chỉ là các tác động liên hệ với các xung năng phát sinh từ nghiệp của mỗi cá thể, đấy chưa phải là sự giải thoát. Người hành thiền phải hiểu rằng không được dừng lại ở thể dạng hòa nhập đó mà chỉ nên xem đấy là các điều kiện cần thiết giúp cho trí tuệ có thể bùng lên).
 Xin kể thêm một câu chuyện khác về một người đàn ông tham gia một khóa ẩn cư do tôi điều khiển. Nhiều người trong khóa học tìm tôi để phàn nàn về người này, vì trong lúc hành thiền người này thở rất ồn ào và đã khiến toàn nhóm rất khó chịu. Tôi đành phải cho họ biết là người này bị ung thư ở mũi và đã đến giai đoạn chót. Không còn cách chữa trị nào nữa, y khoa đã bó tay, khóa ẩn cư này là dịp may cuối cùng của ông ấy. Tất nhiên là sau khi tôi tiết lộ chuyện này ra thì không còn ai than phiền nữa. Thế rồi trước khi khóa ẩn cư chấm dứt, người đàn ông ấy đến tìm tôi và nói rằng: "Thật hết sức lạ lùng, trong những lúc hành thiền tôi cảm thấy thật thư giãn, tôi nhận thấy dường như có một cái gì đó trong mũi tôi được giải tỏa". Sau nhiều tuần luyện tập người này cho biết là lần đầu tiên thở được bằng mũi, thế nhưng cũng chỉ được vài phút thì lại bị nghẹt. Bẵng đi một thời gian, tôi nghĩ rằng người này tất đã qua đời. Thế nhưng vài năm sau đó thì tôi lại gặp ông ta ở Sydney (một thành phố lớn ở bờ biển phía đông của Úc Châu). Ông ta tìm thăm tôi: "Ông có còn nhớ tôi không? Bệnh ung thư của tôi đã khỏi". Ngày nay chính ông ta đứng ra giảng dạy về thiền định! Những gì xảy ra thật đáng ngạc nhiên, thế nhưng tại sao lại có thể xảy ra như thế được? Khi nào quý vị thật sự thực hiện được sự thư giãn đúng nghĩa của nó, thì cơ thể sẽ phát động được khả năng tự-chữa-lành và sẽ giúp quý vị tránh khỏi mọi sự đau đớn. Tôi không bịa chuyện đâu: khi bắt đầu buổi nói chuyện tối hôm nay thì bao tử tôi quặn đau khủng khiếp, thế nhưng lúc này các cơn đau đớn đã giảm xuống và sắp chấm dứt. Thật hết sức kỳ diệu, dường như chúng ta có thể chủ động được sự đau đớn bằng một thái độ cởi mở, tức là không nghĩ đến quá khứ, chỉ biết rằng mình đang ở đây, đang hiện hữu trong giây phút này. Nếu quý vị không chống trả và làm dừng lại các tác động đề kháng tâm thần, thì chín mươi chín phần trăm sự đau đớn sẽ biến mất - đôi khi cũng có thể là một trăm phần trăm.
 Thái độ hành xử đó cũng tỏ ra rất hiệu quả đối với các thứ khó khăn khác trong cuộc sống, chẳng hạn như bị mất việc, ly dị, có tang chế trong gia đình, có ý định tự tử... Khi phải đối đầu với các trường hợp ấy thì phải nghĩ ngay đến vai trò của tâm thần. Khi nào quý vị chủ động được các sự đớn đau ấy thì sau đó mọi việc xảy ra sẽ êm thắm hơn.  
  
Ajahn Brahmavamso 
Hoang Phong chuyển ngữ
 * Vài lời ghi chú của người dịch :
 Nhà sư Ajahn Brahmavamso Mahathera còn được gọi tắt một cách thân mật là Ajahn Brahm, tên thế tục là Peter Betts, sinh năm 1951 tại Luân Đôn trong một gia đình nghèo. Ông đỗ tiến sĩ về Vật Lý Lý Thuyết năm 1960 khi mới 19 tuổi, tại đại học Cambrigde, là một trong các đại học danh tiếng nhất của nước Anh. Sau khi ra trường ông dạy học được một năm và sau đó nhân một chuyến viếng thăm Thái Lan ông biết được Phật Giáo và xin xuất gia. Năm 23 tuổi ông được thụ phong tỳ kheo tại ngôi chùa đồ sộ và nguy nga Wat Saket ở Bangkok. Sau đó tình cờ ông gặp được nhà sư nổi tiếng của Thái Lan thời bấy giờ là Ajahn Chah Bodhinyana Mahathera và đã trở thành đệ tử của nhà sư này.
 Sau chín năm tu học thật khắc khổ theo truyền thống "Tu Trong Rừng" với nhà sư Ajahn Chah trong một khu rừng trên miền bắc Thái, ông được Hiệp Hội Phật Giáo Miền Tây Úc Châu (Buddhist Society of Western Australia) đặt trụ sở ở thành phố Perth mời làm phụ tá cho nhà sư Ajahn Jagaro. Một năm sau thì nhà sư này xin rút lui và nhường chức chủ tịch cho ông. Ajahn Brahm vận động, quyên góp và xây được một ngôi chùa trên một thửa đất rộng 393 000 m² trong công viên quốc gia Serpentine thuộc vùng phía nam thành phố Perth. Ngôi chùa mang tên là Bodhinyana là tên của thầy ông và đã quy tụ được một tăng đoàn đông đảo nhất nước Úc.
Bài chuyển ngữ trên đây được ông thuyết giảng ngày 2 tháng 6, năm 2006 tại giảng đường của Hiệp Hội Phật Giáo Miền Tây Úc Châu (Buddhist Society of Western Australia) với tựa đề Dealing with Pain, bản tiếng Pháp mang tựa là L'Attitude Bouddhiste face à la douleur do Luc Guillard dịch

Thứ Bảy, 20 tháng 1, 2018

Phương cách đối phó với bệnh tật

" Sự sống tương tự như một bông hoa: nở ra được một vài ngày và các cánh hoa sau đó sẽ phải rơi xuống. 
Thế nhưng đấy lại là cách giúp cho đất trở nên phì nhiêu hơn hầu giúp cho các bông hoa khác có thể vươn lên trong tương lai "
- Ajahn Brahm -



PHƯƠNG CÁCH  ĐỐI PHÓ VỚI BỆNH TẬT 

Trước hết chúng ta phải hiểu rằng bệnh hoạn là điều không tránh được. Tất cả chúng ta đều phải bệnh. Một khi ta đã được sinh ra trong vòng luân hồi với thân chịu ảnh hưởng của những xung đột tâm lý và nghiệp, thì bệnh là điều chắc chắn phải xảy ra. Đó là bản chất của thân - nó già đi và bệnh. Cuối cùng nó sẽ hoàn toàn ngừng hoạt động. Nó chết và tâm thức đi tái sinh.
Những phương cách để đối phó với bệnh khi nó xảy ra là gì? Phản ứng thông thường của chúng ta đối với bệnh là cảm thấy thương thân, trách người và sân hận. Các phản ứng này chỉ khiến bản thân chúng ta và người xung quanh thêm khổ sở. Chúng có chữa được bệnh không? Không, dĩ nhiên là không.

Đức Phật khuyên chúng ta nhìn bệnh từ một quan điểm rộng rãi hơn; đó là dầu ta có tìm được phương thuốc phù hợp để chữa bệnh, ta cũng cần tìm hiểu nguồn gốc của bệnh. Bệnh xảy ra khi con người phải sinh ra trong vòng luân hồi. Một khi đã được sinh ra, chúng ta sẽ phải có bệnh, trừ khi cái chết đã đến trước rồi. Nguyên nhân gì khiến ta tái sinh trong vòng luân hồi? Chính là tâm bám víu vào tham, sân, si và nghiệp (các hành động ở thân, ở miệng và ở ý). Những thứ này hợp lại để thành nguyên nhân chính: là sự bám víu vào ngã, là vô minh. Vô minh khiến ta không hiểu về bản chất của thực tại. Do đó giải thoát bản thân khỏi sự vô minh này là điều tiên quyết.
Phần đông chúng ta đồng ý, “Đúng, đúng, tôi phải loại bỏ si mê. Nhưng, tôi sẽ làm điều đó sau này. Hiện giờ tôi đang mạnh khỏe. Tôi trẻ trung và cuộc đời đang ở phía trước. Tôi có thể làm rất nhiều thứ. Tôi muốn ở bên cạnh những người tôi quan tâm. Tôi cần trải nghiệm cuộc sống. Tôi muốn có một nghề nghiệp. Tôi muốn du lịch. Tôi muốn có những dục lạc mới. Tôi muốn sáng tạo nghệ thuật, hay thể thao. Tôi muốn làm điều này và điều nọ. Tôi sẽ quan tâm về vòng luân hồi sau này”.
Qua hàng tỷ kiếp, chúng ta đã dùng dằng khi đối mặt với nguyên nhân gây ra đau khổ cho ta. Sự dùng dằng kéo dài và những lời biện hộ đã đưa chúng ta đi đâu? Chúng ta cứ tiếp tục nói như thế từ kiếp này sang kiếp khác. Tại sao chúng ta trì hoãn? Bởi vì tham ái.
Khổ bắt nguồn từ si mê và tham ái. Để loại bỏ chúng, trước tiên chúng ta phải thấy toàn cảnh luân hồi như thế nào một cách rõ ràng. Điều này liên quan đến việc phát triển lòng can đảm to lớn để quán sát nội tâm, để truy tìm nguồn gốc của luân hồi, các giải pháp khác (giải thoát), và con đường đến giải thoát. Chúng ta phải học về và dồn sức lực vào việc nhận thức bản chất tột cùng của thực tại, sự trống vắng của hiện hữu của tất cả mọi người và mọi vật. Chỉ có như thế, thì chúng ta mới có thể loại bỏ si mê là nguồn gốc tạo ra sinh, già, bệnh và chết.
Tôi sẽ nói thêm về những cách quen thuộc để đối phó với bệnh, nhưng vì theo sát giáo lý của Đức Phật, tôi muốn trước hết bàn đến đề tài này trong cái nhìn đúng đắn. Bỏ qua việc giải thích vòng luân hồi để giúp bạn được ích lợi đối với những vấn đề ngay trước mắt sẽ là dối gạt bạn. Tái sinh trong luân hồi mới đích thực là vấn đề và nhận thức được bản chất thực sự của thực tại một cách trực tiếp mới là giải pháp của vấn đề. Tuy nhiên, cho tới khi chúng ta đạt đến điểm đó, cho tới khi chúng ta nhận thức được sự trống vắng của hiện hữu, thì đây là một số cách khác để đối phó với bệnh hoạn:

1. Bấm nút dừng sợ hãi
Hãy quán sát tâm và nhìn xem chúng ta phản ứng như thế nào đối với bệnh. Tôi không biết bạn có giống như thế không, nhưng khi bệnh, tâm tôi rất sợ hãi và thường nghĩ đến “tình trạng tệ hại nhất” để kết luận. Thí dụ, tôi có cảm giác lạ ở ngực thì liền nghĩ rằng tôi sẽ bị đột quỵ. “Nếu tim có vấn đề khi tôi đang ở trong thất của mình thì sẽ như thế nào? Biết có ai tìm ra tôi kịp không? Liệu họ có đưa tôi đến bệnh viện đủ nhanh không? Ở Mỹ, chúng tôi không có chương trình bảo trợ sức khỏe rẻ tiền, nên những tổn phí về sức khỏe sẽ như thế nào?”. Chỉ là một cảm giác khác lạ nhỏ, nhưng tâm tôi đã phóng đại nó, “Liệu bệnh tim này có đe dọa cuộc sống của tôi không!”. Lại một màn khác: bụng của ta hơi khó chịu, ta liền nghĩ, “Đây chắc là ung thư bao tử rồi”. Khi đầu gối ta đau lúc ngồi thiền, ta liền nghĩ, “Tôi phải chuyển tư thế ngay lập tức, nếu không tôi sẽ bị tàn phế cả đời”. Tâm của bạn có trở nên hoang dại và tạo ra những câu chuyện khủng khiếp như thế không?
Lúc bắt đầu, chỉ là một cảm giác khó chịu ở trong thân - một cảm giác vật lý. Tùy thuộc vào việc chúng ta xem cảm giác vật lý đó như thế nào, chúng ta có thể tạo ra rất nhiều khổ tâm. Nếu chúng ta có thể bấm cái nút “Dừng lại” trên tâm sợ hãi và chỉ ý thức về cảm giác vật lý, ta sẽ không tạo ra phiền não cho tâm. Đó chỉ là một cảm giác, không có gì đáng sợ. Chúng ta không phải căng thẳng. Cảm giác chỉ là cảm giác, hãy để nó như thế.
Khi hành thiền, chúng ta trải nghiệm những cảm giác vật lý khác. Nếu ta gán cho một cảm giác là “đau”, thì mọi thứ thực sự bắt đầu đau. Tuy nhiên, nếu ta chỉ nói “cảm giác”, và không tạo ra một cái tưởng mạnh mẽ hay hình dung trong tâm về đầu gối của mình, thì nó chỉ là cảm giác. Hãy quán niệm: Đâu là cảm giác? Đâu là thân?
Hãy thử nghiệm nhiều cách với cái đau nơi thân khi hành thiền, thay vì lặp lại thói quen trở nên căng thẳng và sợ hãi khi đau.

2. Điều gì khiến cảm giác này là “của tôi”?
Có bao giờ bạn tự hỏi điều gì đã khiến bạn căng thẳng, sợ hãi khi bạn trải nghiệm một cảm giác nào đó? Nếu quán sát, ta sẽ thấy đó là vì ta gán cho nó là của tôi, “Tôi đau.  Lưng tôi nhói buốt”. Ngay khi được dán nhãn “của tôi”, thì một cảm giác mạnh mẽ về “cái tôi” phát khởi, và cảm giác đau đó trở thành ghê gớm. Trong lúc hành thiền, chúng ta có thể tự hỏi mình, “Điều gì khiến cảm giác này là của tôi? Cái gì là tôi hay của tôi trong cảm giác này?”. Khi tâm quán chiếu sâu xa về điều này, là cách ta chất vấn ý thức mạnh mẽ về một “cái tôi” bền vững. “Cái tôi” và “Của tôi” có hiện hữu đúng như ta tưởng không? Từ đó ta quán về sự không có mặt của một hiện hữu độc lập hay một chủ thể thường hằng.

3. Hãy nghĩ, “Tốt! Bệnh cũng tốt!”
Một cách khác để đối phó với bệnh là hãy nghĩ, “Tôi bệnh à, tốt thôi!”. Đây là một cực đoan đối nghịch với cách chúng ta thường suy nghĩ phải không? Thuốc chữa của Pháp đối với hầu hết những khó khăn của chúng ta đều chính là sự đối nghịch lại đối với những gì tâm ta thường tự động nghĩ. Đức Phật khuyên ta làm ngược lại với những gì mà bản ngã muốn làm. Trong trường hợp này khi bệnh, ta nên nhủ, “Tốt! Có bệnh tôi cũng vui!”.
Có thể bạn sẽ nghĩ, “Điên à? Làm sao có thể nói, tôi vui khi bị bệnh?”. Hãy nhìn sự việc theo cách này: bệnh của ta là do nghiệp xấu mà ta đã tạo ra trong quá khứ. Giờ thì nghiệp đó đã ra quả dưới hình thức bệnh, nó không còn che mờ tâm trí ta nữa. Có thể nghiệp xấu đó có năng lực khiến ta phải tái sinh đọa vào những nơi ghê gớm (như địa ngục, ngạ quỷ hay súc sanh) một thời gian dài, nhưng thay vào đó giờ nó chỉ trổ quả mà nếu so sánh thì ít khổ hơn nhiều. Nếu ta quán chiếu như thế, thì căn bệnh mà ta hiện đang mang thực sự trở nên khá bình thường. Không có gì phải làm ầm ĩ. Không đến nỗi tệ; nếu so với một kiếp sống đọa đày hàng tỷ kiếp, thì việc này chỉ như cơn gió nhẹ! Thực ra, nếu có thể thanh tịnh hóa những nghiệp xấu đáng kinh của ta dễ dàng như thế, thì ta không màng nếu có phải bệnh nặng hơn chút đỉnh!
Một sư tỷ của tôi lúc đang nhập thất, bị một mụt hạch to nổi lên ở miệng. Rất đau. Khi cô đang đi bách bộ sau một thời khóa thiền, cô gặp sư phụ chúng tôi, ngài Lama Zopa Rinpoche. Ngài hỏi, “Cô khỏe không?”. Cô rên rỉ, “Con bị mụt hạch…”. Rinpoche trả lời, “Tốt! Tuyệt vời! Cô may mắn quá!”. Dĩ nhiên, cô chẳng muốn nghe những lời như thế. Cô cần những lời thương hại. Nhưng Rinpoche lại tiếp, “Tốt quá! Cô đang trả quả cho những nghiệp xấu đến nỗi có thể khiến cô phải đọa đày, chỉ bằng bị một mụt hạch. Cô thật may mắn!”.
Nếu nhìn sự việc theo cách đó, ta sẽ nhận thấy rằng căn bệnh hay cái đau mình đang mang thực sự không quá tệ. Ta có thể chịu đựng khi nghĩ rằng nó còn có thể trổ nghiệp tệ hơn. Thêm nữa, ta cảm thấy may mắn vì nghiệp này đã chín, nó không còn ám ảnh tâm trí ta nữa. Không còn bị nó che mờ tâm, thì việc thực hiện được con đường giải thoát sẽ dễ dàng hơn. Đây là một phương cách khác mà ta có thể sử dụng khi đau bệnh.

4. Hãy tử tế với người
Mấy năm trước đây, một người bạn tôi ở tuổi chớm ba mươi đi khám bệnh vì cô không thấy khỏe. Bác sĩ chẩn đoán là cô đang mắc một căn bệnh nan y, cô sẽ phải bệnh một thời gian dài và có thể phải chết.
Phản ứng tức thì của cô bạn ngay lúc đó, dĩ nhiên, là sợ hãi, phiền muộn. Cô bắt đầu rơi vào trạng thái trầm cảm, tự thương hại và cáu gắt. Rồi bất chợt, cô dừng lại và tự hỏi, “Nếu Đức Đạt-lai Lạt-ma ở trong hoàn cảnh như mình, thì ngài sẽ cảm thấy thế nào? Ngài sẽ ứng xử thế nào trong hoàn cảnh đó?”. Suy nghĩ nhiều về điều đó, cuối cùng cô nghĩ là ngài sẽ kết luận, “Hãy sống tử tế”.
Do đó, cô chấp nhận “Hãy sống tử tế” như một câu châm ngôn. Cô nghĩ, “Mình sẽ phải vào ở trong bệnh viện một thời gian và sẽ gặp đủ loại người ở đó - y tá, y sĩ, điều trị viên, bác sĩ, nhân công, các bệnh nhân khác, người thân trong gia đình và nhiều người khác nữa. Tôi sẽ tử tế với tất cả mọi người”. Cô quyết tâm sẽ tử tế với tất cả những ai cô gặp trong quá trình ở bệnh viện và ở khu điều trị.
Một khi tâm đã quyết sống tử tế, nó trở nên bình an. Cô đã chấp nhận bệnh của mình, và cô đã có phương thức hành động, đó là sống tử tế. Cô nhận ra rằng dầu khi bị bệnh, cuộc đời của cô cũng có thể mang lại lợi ích cho người. Cô có thể chia sẻ sự tử tế với người khác để cải tiến chất lượng cuộc sống của họ. Cô có thể là một bệnh nhân biết hợp tác, vui vẻ và biết ơn, người có thể mang hạnh phúc đến cho các nhân viên bệnh viện và các bệnh nhân khác.
Cuối cùng câu chuyện kết thúc là, sau khi bác sĩ của cô làm thêm các xét nghiệm, ông thông báo là sự chẩn đoán đầu tiên không chính xác: Cô không bị bệnh hiểm nghèo đến thế. Dĩ nhiên là cô thấy nhẹ nhõm khi nghe như thế, nhưng cô nói rằng việc rèn luyện tâm để đối mặt với bệnh là một kinh nghiệm quý báu đối với cô. Giờ bệnh không còn nguy hiểm đến tính mệnh thì việc tử tế với mọi người càng trở nên dễ dàng hơn.

5. Luyện tâm để sống cho xứng đáng
Trong những năm 1987 và 1988 khi sống tại Singapore, tôi được gặp một thanh niên trẻ rất dễ thương, nhưng đang đối mặt với căn bệnh ung thư giai đoạn cuối. Anh đang ở vào những năm cuối của tuổi hai mươi mà trước khi phát bệnh, cuộc đời anh tràn đầy niềm vui. Anh vừa được nhận vào học cao học tại một trường đại học ở Mỹ, và anh đang rất háo hức được du học xa. Nhưng sau khi ngã bệnh, tất cả mọi dự tính đều ngưng giữa dòng. Một lần tôi đến thăm, anh buồn rầu nói, “Giờ con chỉ là người vô dụng. Muốn ngồi dậy đi ra khỏi phòng cũng không được”. Chúng tôi đang ngồi cạnh cửa sổ, nên tôi nói, “Hãy nhìn ra cửa sổ. Có rất nhiều người lái xe qua lại, hay di chuyển đến các nhà ga, bận rộn đi chỗ này, chỗ kia. Anh có nghĩ là cuộc sống của họ rất xứng đáng? Họ có thể bận rộn đi đây, đi đó với bao nhiêu công việc, nhưng có phải vì thế mà cuộc đời của họ đáng sống hơn không?”. Rồi tôi tiếp tục giải thích rằng một cuộc đời đáng sống không phải là nhờ luôn bận rộn. Sống xứng đáng tùy thuộc vào việc ta sử dụng tâm mình như thế nào. Ngay như thân ta có bị bại liệt, nếu ta dùng tâm trí mình để hành Pháp, thì cuộc sống của ta cũng trở nên rất hữu ích. Không cần phải đủ sức khỏe mới hành Pháp được.
Dĩ nhiên, nếu có sức khỏe thì việc tu tập sẽ dễ dàng hơn, tuy nhiên nếu bệnh, ta vẫn có thể sử dụng bất cứ thời gian nào, năng lực nào còn lại để tu hành. Ngay cả khi ta không thể ngồi dậy nổi, phải nằm liệt giường, ngay cả khi ta bị hôn mê nhiều giờ, ngay cả khi ta yếu sức, không còn nhìn thấy rõ, ta vẫn có thể nghĩ đến những điều thiện lành và quán tưởng đến bản chất thực sự của thực tại. Chúng ta có thể quán về nghiệp và an trú trong Tam bảo (Phật, Pháp và Tăng). Có bao nhiêu pháp hành ta có thể thực hành ngay cả khi ta đang đau bệnh. Khi ta lợi dụng hoàn cảnh này để thực hành những điều Phật dạy, là ta đang khiến cuộc sống của mình tràn đầy ý nghĩa.
Đừng nghĩ rằng cuộc đời của bạn có ý nghĩa chỉ vì bạn chạy đây chạy đó làm những việc không tên. Đừng nghĩ rằng vì có tiền, vì bận rộn công việc, sở hữu bao nhiêu thứ và có biết bao bạn bè là chất lượng của một cuộc sống có ý nghĩa. Đôi khi, nhìn bề ngoài cuộc sống của chúng ta có vẻ tuyệt vời. Chúng ta có nhiều bằng khen, nhiều của cải vật chất để làm biểu tượng cho những nỗ lực của ta, nhưng trong quá trình tạo ra chúng, ta có thể đã tạo ra bao nghiệp xấu ác. Nghiệp xấu đó không phải là sản phẩm hữu ích trong các hoạt động của ta. Thí dụ, do có nhiều ham muốn hay tham vọng chấp ngã để được danh tiếng, chúng ta có thể dối trá, lường gạt người khác. Ta có thể nói xấu người khác, làm bại hoại danh tiếng của họ, phá hủy tình bằng hữu và nói xấu kẻ khác để đạt được điều mình muốn. Dù ta có thể thỏa mãn những ước vọng của mình, tất cả những dấu hiệu thành công bên ngoài rồi sẽ phai nhòa, đến khi ra đi, chỉ có nghiệp sẽ đi theo ta mà thôi.
Trái lại, chúng ta có thể bị bệnh, phải nằm một chỗ, nhưng nếu ta dùng tâm mình để tạo ra những nghiệp xây dựng tích cực, là ta đang tạo ra nhân cho sự tái sinh tốt đẹp. Nếu ta quán từ bi, hành thiền cũng như chỉ bày cho người hành thiền khi đang nằm một chỗ, tâm ta sẽ trở nên gần gũi hơn với giác ngộ, giải thoát. Về lâu về dài, điều đó làm cho cuộc sống của chúng ta vô cùng ý nghĩa.
Chớ coi thường sức mạnh của tâm. Tâm rất dũng mãnh. Ngay cả khi ta bệnh, uy lực của những tư tưởng tích cực mà ta tạo tác cũng có thể ảnh hưởng đến những người quanh ta. Những tư tưởng và tình cảm tử tế, khôn ngoan cũng có thể mang đến các sự tái sinh tốt đẹp và đưa ta đến con đường giác ngộ.

Ni sư  Thubten Chodron 
Diệu Liên Lý Thu Linh chuyển ngữ
Từ " Dealing With Life’s Issues "

Thứ Sáu, 19 tháng 1, 2018

Đối mặt với những khổ đau trong cuộc đời

" Thở một hơi dài và tập trung tư tưởng nơi câu niệm Phật
Hãy tập làm điều này cho thành thói quen "
- Ajahn Chah -



ĐỐI MẶT VỚI NHỮNG KHỔ ĐAU TRONG CUỘC ĐỜI
Ðức Phật đã thường xuyên nhắc nhở các đệ tử rằng: “Tất cả những gì theo duyên khởi cũng đều theo duyên diệt”. Hôm nay thầy không đem đến những gì về vật chất cho con, mà chỉ đem đến những lời dạy của Ðức Phật. Con phải hiểu rằng ngay Đức Phật với phước huệ vô biên cũng không thể tránh được cái chết. Khi Phật đến tuổi già ngài đã buông bỏ cái xác thân già yếu và những gánh nặng của nó. Bây giờ con cũng phải tập bằng lòng với những tháng năm con đã ở trong thân xác này. Con phải cảm thấy rằng như vậy là cũng đủ rồi. Con có thể so sánh thân như những vật gia dụng đã dùng đến lâu năm– những ly tách, đĩa bàn v.v… Khi con mới có chúng, trông chúng thật là sạch sẽ và bóng láng, nhưng bây giờ, sau một thời gian dài đã dùng lâu, chúng bắt đầu mờ xấu đi. Có cái đã vỡ rồi, có cái thì mất đi, và những cái còn lại cũng tàn tạ dần, chúng không giữ mãi được hình dạng cũ, và đó là bản chất của chúng.
Thân của con cũng như vậy – nó thường xuyên thay đổi ngay từ ngày con chào đời, trải qua tuổi thơ ấu và thiếu niên, cho đến tuổi già hiện nay. Con phải chấp nhận điều đó. Phật đã nói rằng những duyên hợp, dù là duyên hợp trong tâm thân hay ở ngoài, đều là vô ngã, bản chất của nó là luôn luôn thay đổi. Khối thịt đang nằm đây suy hoại chính là sự thật. Phật dạy rằng bản chất của thân là như vậy, sanh ra , già yếu đi, mang bệnh rồi chết, không thể nào khác hơn được. Ðó là một sự thật lớn mà con đang gặp phải đây. Hãy nhìn thân xác mình với trí tuệ và nhận thức được sự thật đó. Ngay cả khi nhà con đang bị đe dọa bởi bão lụt hay lửa cháy , dù hiểm nguy ấy có đến cỡ nào, cũng chỉ cho nó ảnh hưởng đến cái nhà thôi. Nếu có bão lụt, đừng để nó ngập lụt tâm mình.
Nếu có lửa cháy, đừng để cho lửa cháy tâm mình, mà chỉ cháy nhà thôi, chỉ những gì bên ngoài mình mới bị ngập lụt và cháy thôi. Hãy để tâm buông xả khỏi những ràng buộc. Thời điểm đã đến rồi. Con đã sống một thời gian lâu dài. Mắt con đã thấy được nhiều hình sắc, tai con đã nghe bao nhiêu là âm thanh, con đã có bao nhiêu là kinh nghiệm trong đời. Và chúng chỉ là thế thôi – chỉ là những kinh nghiệm. Con đã ăn biết bao nhiêu của ngon vật lạ, và tất cả những vị ngon đó chỉ là vị ngon, thế thôi. Những vị dở cũng chỉ là những vị dở, thế thôi. Nếu mắt có thấy một bóng hình đẹp, thì đó cũng chỉ là một bóng hình đẹp, thế thôi. Một hình dạng xấu cũng chỉ là một hình dạng xấu. Tai có nghe những âm thanh hấp dẫn, du dương thì cũng chỉ là như thế, không có gì hơn. Một âm thanh khúc mắc, chói tai thì cũng chỉ là một âm thanh thế thôi. Ðức Phật dạy rằng mọi chúng sinh dù là người hay là thú , dù giàu hay nghèo, già hay trẻ, không ai là có thể tồn tại lâu dài mãi mãi trong một tình trạng , mọi thứ đều sẽ phải thay đổi và xa rời đi. Ðó là một sự thật sống mà chúng ta chẳng thể nào sửa đổi được.
Nhưng điều chúng ta có thể làm được là quán tưởng về tâm và thân này để thấy sự vô ngã của nó, để thấy rằng chúng không phải là “ta” hay “của ta”. Chúng chỉ là những thực tại tạm thời. Cũng như cái nhà này, nó là chỉ của con trên danh nghĩa, con không thể đem nó theo đi đâu được. Cũng như những tài sản, những của cải này và gia đình thân quyến – tất cả cũng chỉ là của con trên danh nghĩa, họ không thực sự thuộc về con, họ thuộc về thiên nhiên. Chân lý này không phải chỉ áp dụng cho riêng con, tất cả mọi người đều phải chịu như vậy, kể cả Phật và những vị đệ tử đã giác ngộ của ngài. Nhưng họ khác biệt chúng ta ở một điểm, đó là họ nhìn mọi việc theo đúng sự thực của chúng, họ thấy rằng nó là như vậy, và không thể nào khác hơn được. Như vậy chúng ta phải quán chiếu trên thân này, từ gót chân lên đến đỉnh đầu và rồi lại trở xuống chân . Hãy nhìn lại thân mình xem, ta thấy những gì? Có cái gì tự nó là thanh tịnh không? Có thấy có chất gì trường tồn không? Thân xác này thường xuyên suy hoại dần và Phật dạy rằng nó không thuộc về chúng ta. Nhưng đó là cái lẽ tự nhiên, vì tất cả mọi hiện tượng do duyên hợp đều phải thay đổi.
Ðiều làm ta đau khổ không phải là thân này, mà chính là sự suy nghĩ sai lầm. Khi ta nhìn điều phải một cách sai trái, thế nào cũng có sự lầm lạc. Xem như nước trên giòng sông. Nước chảy xuôi xuống từ nguồn, nó không bao giờ chảy ngược, bản chất nó là như vậy. Nếu có một người nào đó đứng trên bờ sông nhìn giòng nước chảy mà lại điên rồ muốn nó chảy ngược lại, thì hắn sẽ phải chịu đau khổ. Có làm gì đi nữa, tâm hắn cũng phải khó chịu vì sự suy nghĩ sai lạc này. Hắn sẽ cảm thấy không vui vì quan niệm muốn nước chảy ngược lại của hắn. Nếu có chánh kiến, hắn sẽ thấy là nước tất yếu sẽ phải chảy xuôi từ nguồn và khi hắn không nhận thức và chấp nhận được điều đó, hắn sẽ còn phải chịu những bực bội và bất an. Giòng nước chảy xuôi từ nguồn cũng ví như thân xác. Thân xác con đã có thời trẻ trung, bây giờ nó già đi và đang tiến dần đến cái chết. Ðừng mơ ước điều gì khác hơn. Ðó không phải là điều chúng ta có khả năng sửa đổi được. Ðức Phật dạy chúng ta phải thấy rõ như vậy và xả bỏ đi những ràng buộc. Hãy an trú nơi tâm niệm buông xả này dù cho con có cảm thấy mệt mỏi, kiệt sức.
Thở một hơi dài và tập trung tư tưởng nơi câu niệm phật. Hãy tập làm điều này cho thành thói quen. Càng mệt mỏi lại càng phải chuyên chú tập trung tư tưởng để có thể đương đầu với những cảm giác đau đớn dâng lên. Khi bắt đầu thấy mệt, hãy ngừng ngay những vọng tưởng, để tâm trí tập trung vào hơi thở. Hãy chuyên chú niệm Phật trong tâm. Xả bỏ đi những vấn đề bên ngoài. Ðừng vướng mắc vào những suy tư về con cái, bà con thân thuộc, đừng bám víu vào bất cứ một cái gì. Hãy buông xả, nhiếp tâm theo dõi vào hơi thở cho đến khi tâm càng lúc càng trở nên tinh tế hơn, những cảm thọ mờ dần và chỉ còn lại một trạng thái tỉnh thức và sáng suốt. Khi đó những cảm giác đau đớn dâng lên sẽ tự lắng xuống dần. Khi tiễn biệt một người thân, chúng ta đi ra nhìn theo cho đến khi khuất bóng rồi mới trở vào trong nhà. Chúng ta cũng theo dõi hơi thở như vậy, Nếu hơi thở thô phù, ta biết đó là thô phù, hơi thở vi tế, ta biết đó là vi tế. Cho đến lúc hơi thở càng ngày càng nhẹ đi, chúng ta vẫn tiếp tục theo dõi trong khi giữ cho tâm mình được tỉnh táo . Dần dần tâm sẽ không nhận thức về hơi thở nữa mà ở trong một trạng thái tỉnh thức hoàn toàn. Cái đó gọi là “tri kiến Phật”.
Sự tỉnh thức và sáng suốt trong tâm ta ấy gọi là “Phật”, chỉ cho tính giác ngộ, linh mẫn, trí huệ. Khi chúng ta đạt tới đó, ta sẽ thấy rằng tâm và Phật cũng là một. Vậy con hãy buông xả, quên đi hết mọi sự để chỉ còn sự hiểu biết sáng suốt trong tâm. Ðừng bị mê hoặc nếu có những ảo giác hay âm thanh. Hãy xả bỏ chúng đi, đừng ôm ấp bất cứ điều gì. Ðừng lo lắng về quá khứ hay tương lai, hãy để tâm tĩnh lặng và con sẽ đạt được trạng thái của tính “không” trong đó không có tiến hay thoái, không có sự ngừng lại, không có gì để bám víu hay ràng buộc vào. Tại sao? Vì không còn có bản ngã, không còn cái “tôi” hay “của tôi”. Tất cả đều đã tan biến đi rồi. Thực hiện được Pháp, con đường đưa đến sự giải thoát khỏi vòng sanh tử, là một việc chúng ta phải tự mình làm. Vậy hãy tiếp tục buông xả và tìm hiểu được lý Ðạo. Ðừng lo lắng gì về gia đình của con nữa. Bây giờ họ đang như thế, nhưng tương lai rồi họ cũng như con thôi.
Không ai trên thế giới này là có thể trốn thoát được số phận đó. Ðức Phật đã dạy chúng ta là phải buông bỏ hết mọi sự giả hợp không thật trên thế gian này. Nếu con buông bỏ được, con sẽ thấy được chân lý. Ngay cả khi con đang thấy mình suy nghĩ cũng không sao cả, miễn sao con biết suy nghĩ với trí tuệ, đừng có những ý tưởng si mê. Nếu nghĩ về con cái hãy nghĩ đến chúng trong sự hiểu biết, không phải trong sự mù quáng ngu si. Tâm con hướng về đâu, hãy nghĩ đến điều đó và hiểu rõ nó, biết rõ thực chất của nó như thế nào. Nếu con có trí tuệ hiểu biết về một điều gì con có thể buông bỏ một cách dễ dàng và không còn đau khổ. Tâm của con sẽ trong sáng, an lạc, và vững chắc vì không bị phân tán. Còn ngay bây giờ thì con phải nương về hơi thở để làm phương tiện trợ giúp cho con.
Ðây là việc con phải làm, không ai khác làm thế được. Ðể người khác làm những việc của họ. Con có những việc và trách nhiệm của riêng con và con không cần ôm lấy những trách nhiệm của người khác. Buông bỏ được, tâm trí con sẽ được yên ổn. Trách nhiệm duy nhất của con bây giờ là chuyên chú vào tâm mình và tìm cách làm cho nó được an bình. Hãy để những việc khác cho người khác lo. Sắc, thanh, hương, vị – để lại cho người khác lo. Nếu có bất cứ cái gì khởi lên, lo sợ hay đau đớn hay sự lo lắng về một điều gì đó, hãy nói với nó rằng: “Ðừng có làm rộn tôi. Tôi không còn can dự gì nữa.” Hãy tự nhủ như vậy cho đến khi con thấy được Pháp. Pháp có nghĩa là gì? Tất cả mọi sự đều có thể gọi là pháp. Không có cái gì mà không có pháp trong đó cả. Như vậy cái gì là “thế gian”? Thế gian chính là trạng thái tinh thần bị khích động. “Người này sẽ làm gì? Người kia sẽ làm gì? Họ sẽ xoay sở như thế nào đây?” Tất cả những điều đó là “thế gian”. Ngay cả một khởi niệm lo sợ về cái chết hay sự đau đớn cũng là thế gian. Hãy buông bỏ thế gian đi! Thế gian chỉ là thế gian vậy thôi. Nếu để nó xâm chiếm vào trong ý thức, tâm trí con sẽ trở nên tối tăm và không còn nhận thấy được chính nó nữa. Vì vậy mỗi khi có khởi niệm, hãy nói rằng:”Ðây không phải là việc để tôi phải bận tâm. Nó là vô thường, không đem lại sự thỏa mãn và trống rỗng”.
Nghĩ rằng mình muốn được sống lâu dài sẽ làm cho ta đau khổ. Nhưng nghĩ rằng mình muốn chết thật mau chóng, đó cũng là sự đau khổ. Những nhân duyên không thuộc về chúng ta, chúng đi theo những luật lệ tự nhiên của chúng. Ta không thể làm được gì với tình trạng thân thể của mình. Ta có thể làm đẹp nó một chút, làm cho nó sạch sẽ và trông hấp dẫn trong một thời gian, như những cô gái môi son má phấn và chải chuốt móng tay , nhưng khi tuổi già đến , tất cả mọi người đều ở trong một tình trạng như nhau. Ðó là điều ta phải chấp nhận với thân vô thường này, ta không thể làm gì khác được. Nhưng đối với tâm trí, ta có thể cải thiện và đưa nó đến chân mỹ được. Ai cũng có thể xây được một căn nhà bằng gạch đá và gỗ, nhưng Ðức Phật dạy rằng ngôi nhà như vậy không phải là nhà đích thực của ta, nó chỉ là của ta trên danh nghĩa. Nó là căn nhà thế gian và nó sẽ đi theo con đường của thế gian. Ngôi nhà đích thực của ta là sự an bình trong tâm. Một ngôi nhà bằng vật liệu vật chất ở ngoài có thể đẹp đẽ đấy nhưng không đem lại sự an bình. Ta phải lo âu nhiều thứ về nó, hết viêc này đến việc kia phải nghĩ đến. Vì thế ta nói rằng đó không phải là mái nhà đích thực của ta, nó ở ngoài ta, sớm muộn gì ta cũng sẽ phải bỏ nó lại. Ðó không phải là một nơi ta có thể ở mãi được vì nó không thực sự thuộc về ta, nó là một phần của thế gian này.
Thân của ta cũng như vậy, ta tưởng rằng nó là ta, là “tôi” và “của tôi”, nhưng thực sự nó không phải như vậy , nó cũng chỉ là một ngôi nhà thế gian khác mà thôi. Thân của con đã trải qua diễn tiến tự nhiên của nó từ lúc mới sanh ra cho đến bây giờ, nay nó đã già và bệnh hoạn, con không thể ngăn cấm điều đó được, đó là cái lẽ tự nhiên phải như vậy. Khi con nhận thấy thân con người phải già đi và chết, con sẽ tìm được sức mạnh và nghị lực. Dù con có muốn thân này tiếp tục sống và kéo dài tuổi thọ đến đâu, nó cũng không làm như vậy được. Ðức Phật nói: Anicca vata sankhara Uppadavayadhammino Upajjjhitva nirujjhanti Tesam vupasamo sukho. Chữ sankhara (samskara) tiếng Phạn nói đến cái thân ngũ uẩn này. Thân ngũ uẩn là vô thường và bất định, vừa được hình thành xong chúng lại biến đi, vừa khởi lên chúng đã qua mất. Xem như hơi thở, chúng vừa vào , lại phải ra ngay, đó là cái lẽ tự nhiên phải như vậy. Hít vào và thở ra là phải luân phiên với nhau, phải có sự thay đổi như vậy. Thân ngũ uẩn tồn tại qua sự thay đổi.
Thử nghĩ xem, ta có thể thở ra mà không thở vào được không? Nếu như vậy ta có thấy tốt hơn gì không? Hay ta có thể nào chỉ có hít vào được không? Chúng ta muốn mọi vật đều thường tồn nhưng không thể nào như thế được. Một khi hơi thở đã vào trong, nó lại phải ra ngay, và khi nó ra rồi nó lại phải trở vào và đó là điều tự nhiên thôi, có phải không? Một khi đã sinh ra chúng ta sẽ phải già đi, phải mang bệnh tật và rồi chết đi, đó cũng là điều hoàn toàn tự nhiên bình thường. Ðó là bởi vì thân ngũ uẩn đã làm xong việc của nó, bởi vì hơi thở ra thở vào phải luân phiên như vậy, nên nhân loại mới còn tồn tại đến ngày nay. Ngay khi chúng ta vừa sinh ra, chúng ta đã bắt đầu chết. Sự sinh và tử của chúng ta chỉ là một. Cũng giống như cái cây: khi có rễ, tức phải có cành. Khi có cành lá, tức phải có rễ. Không thể nào có cái này mà không có cái kia. Thật là khôi hài khi con người ta mỗi khi đối diện với cái chết là đau đớn khổ sở đến mất hồn và sợ hãi, buồn rầu, trong khi lại sung sướng vui mừng khi có người được sinh ra. Tôi nghĩ là nếu chúng ta muốn khóc, hãy khóc khi có người sinh ra. Vì thực sự ra : sinh tức là tử, mà tử tức là sinh, rễ là cành, mà cành cũng là rễ. Nếu ta cần phải khóc, hãy khóc ngay cái rễ, khóc ở nơi sự sinh ra. Hãy nhìn kỹ xem: nếu không có sinh, làm sao có tử. Con có hiểu được điều này không? Ðừng nghĩ ngợi gì nhiều. Chỉ biết là, “Mọi sự đều phải như vậy”.
Hiện tại không ai có thể giúp được con, gia đình con hay của cải của con không có thể làm cho con được. Chỉ có chính niệm, sự tỉnh thức mới có thể giúp con được lúc này. Vậy đừng có ngần ngại gì nữa. Hãy buông bỏ hết đi. Dù cho con có không buông bỏ, mọi sự cũng bỏ con mà đi. Con không thấy sao, trên thân thể con những bộ phận khác nhau đang dần dần suy thoái đi. Tóc con ngày nào còn đen nhánh và dầy, nay đã rụng đi. Nó đang bỏ con đi. Mắt con khi xưa sáng và mạnh mẽ, bây giờ mờ yếu đi. Khi những bộ phận đã kiệt lực rồi, chúng sẽ rời bỏ đi; đây không phải là nhà của chúng. Khi con còn là một đứa trẻ, răng con chắc và khỏe; giờ đây chúng lung lay; có thể con còn có răng giả nữa. Mắt, tai, mũi, lưỡi – tất cả mọi thứ đều sẵn sàng ra đi bởi vì đây không phải là nhà của chúng. Con không thể xem thân ngũ uẩn này như nhà của con mãi mãi được, con chỉ có thể ở trong đó một thời gian ngắn và rồi lại ra đi.
Cũng giống như một người ở thuê đang cố canh giữ ngôi nhà bé nhỏ của mình với con mắt đang mờ yếu dần. Răng hắn không còn tốt nữa, tai hắn cũng lãng đi, thân hắn không còn mạnh khỏe, và mọi thứ đang xa rời đi dần. Vậy con không cần phải lo lắng gì hết bởi vì đây không phải là nhà thật của con, đây chỉ là chỗ trú ẩn tạm thời. Tất cả những gì đang hiện hữu đây rồi sẽ không còn nữa. Nhìn thân thể của con xem. Có cái gì là còn được hình dạng xa xưa của nó không? Da con có mịn như ngày nào, tóc con có xanh như thời ấy không? Không có gì còn nguyên như cũ cả. Nhưng bản chất của mọi sự là phải như vậy. Khi đã đến lúc chung cuộc, những duyên hợp phải tan rã đi. Ta không thể nào tin cậy vào thế giới này được – đó chỉ là một vòng xoay vô tận của những xao động và phiền não, của lạc thú và niềm đau. An lạc không có ở nơi đây. Khi chúng ta không có ngôi nhà đích thực , chúng ta là những lữ khách lang thang không mục đích, nay đây mai đó, dừng chân một nơi được ít lâu rồi lại ra đi. Khi ta còn chưa trở về nhà thực sự của mình , chúng ta sẽ còn cảm thấy bất an dù ta có đang làm gì chăng nữa, cũng như một người rời bỏ quê hương làng xóm để tha phương cầu thực. Chỉ khi nào hắn ta trở về lại nhà rồi mới có thể thảnh thơi và yên tâm được.
Trên thế giới này không đâu là có sự an bình thực sự.
Người nghèo không được yên ổn, kẻ giàu sang cũng vậy. Người lớn không thấy an lạc, trẻ con cũng không an tâm, người ít học không thấy sung sướng, người học nhiều cũng vậy. Không có sự an lạc ở đâu cả. Và đó là bản chất của thế giới này. Người không có tiền của đau khổ, nhưng người nhiều tiền cũng vậy. Trẻ con, người lớn, người già, tất cả đều đau khổ. Cái khổ của tuổi già, cái khổ của tuổi trẻ, cái khổ của sự giàu sang, và cái khổ của sự nghèo khó – nơi đâu cũng chỉ có sự đau khổ. Cái thân của con đang nằm đây đau yếu và cái tâm đang biết đến sự đau yếu đó của con đều gọi là pháp (dharma). Những gì không hình tướng như tư tưởng, cảm thọ, được gọi là namadharma. Cái thân đang đau yếu bệnh hoạn được gọi là rupadharma. Cái vật chất là pháp và cái không vật chất cũng là pháp.
Như vậy chúng ta sống với pháp, sống trong pháp, và chính chúng ta là pháp. Thật sự ra không có một bản thể nào ở đâu cả, mà chỉ có những pháp liên tục khởi lên rồi diệt đi, vì bản chất chúng là như vậy. Trong mỗi giây mỗi phút chúng ta đều đang trải qua sự sanh và tử của mình. Mọi sự đều phải là như vậy.*

Ajahn Chah
Lưu Ly dịch 
Từ “Introduction to The Buddha and his Teachings”

* Ảnh : Ðaị sư Ajahn Chah
 *Ajahn Chah (có nơi phiên âm là Achaan Chaa) (1918-1992) là một vị cao tăng Thái Lan nổi tiếng về pháp Thiền thuộc Phật giáo Nguyên Thủy. Ajahn là tiếng Thái Lan, dựa theo tiếng Phạn là Acariya (A xà lê), có nghĩa là “thầy, sư” . Ðại đức sinh trưởng trong một gia đình khá giả tại miền đông bắc Thái Lan, và thọ giới Tỳ kheo năm 20 tuổi. Ðại đức theo học nhiều thầy, trong đó có Ajahn Mun là vị tăng Thái lan nổi tiếng trong thế kỷ này. Ðây là lối tu theo truyền thống khổ hạnh của hạnh du tăng đầu đà (dhutanga),theo đó các vị tăng chỉ sống trong rừng chứ không ở chùa tại các đô thị., các vị chỉ lập một chỗ sơ sài để tu hành, mà không làm những công việc khác như: cúng lễ, dạy học, nghiên cứu kinh điển. Họ xa lánh các nơi đông đúc vì muốn để hết thời giờ vào việc hành Thiền một cách toàn vẹn và nghiêm chỉnh. Sau nhiều năm di chuyển trong rừng, tu theo pháp khổ hạnh, đại đức trở về gần vùng nơi sanh trưởng và sống tại một khu rừng rậm, không có người ở, chỉ có nhiều hổ, rắn. Nhưng sau một thời gian thì nhiều người biết và đến xin thụ huấn nên dần dà trở thành chùa Wat Pah Pong, gồm nhiều nhà nhỏ rải rác quanh đó. Sau đó tại Thái Lan hàng trăm chùa theo pháp Thiền của đại đức đã được thành hình do các đệ tử của đại đức dựng lập. Ðại đức đã đi thuyết pháp tại Anh, Mỹ và Gia nã đại. Một số rất đông người Tây phương đã đến Wat Pah Pong thụ huấn và nhiều người đã thành Tăng và trở về nước tiếp tục truyền bá Phật pháp. Chùa lớn nhất tại ngoại quốc ở tại Chihurst (1979) và Amaravati (1984), Anh quốc, với vị tăng gốc Mỹ Ajahn Sumedho trụ trì. Ngoài ra còn có trung tâm Dhammaloka và thiền viện Bodhinyana tại Tây Úc, và các thiền viện khác ở Thụy Sỹ, Tân tây Lan, v.v. 
Ðại đức có lối giảng dạy giản dị, chân thực khi ông nói chuyện với một nữ đệ tử già yếu đang sắp chết.Bằng một giọng trầm tĩnh sâu xa, đại sư nhắc lại cho bà nghe về lý vô thường, và dạy những phương tiện để đối phó với những đau khổ: “Thở một hơi dài và tập trung tư tưởng nơi câu niệm Phật. Hãy tập làm điều này cho thành thói quen” , dùng những câu nói có năng lực tốt lành diệu dụng để bảo vệ tâm trí khỏi những khởi niệm về trạng thái đau khổ của một người đang nằm trên giường bệnh.