Thứ Hai, 26 tháng 2, 2018

Đạo Sư

" Nếu người theo đường này
Đau khổ được đoạn tận "
- Kinh Pháp Cú -



ĐỨC PHẬT LÀ THẦY CHỈ ĐƯỜNG

Đức Phật dạy: “Hãy tự xem con là hải đảo của con, hãy tự xem con là nơi nương tựa của con. Không nên tìm nương tựa nơi ai khác” (Trường A-hàm, kinh Đại bát Niết-bàn), và Ngài cũng nói rõ: “Các con phải tự mình nỗ lực. Các đấng Như Lai chỉ là đạo sư” (Kinh Pháp cú, kệ 276).

Tuy nhiên, lắm lúc chúng ta quên điều đó. Thay vì quyết tâm làm theo lời Phật dạy do ngưỡng mộ Ngài và tin tưởng tuyệt đối nơi giáo pháp của Ngài, thì chúng ta lại sùng bái Ngài như một vị thần linh tối thượng.
Đức Phật chưa bao giờ cho rằng Ngài là thần linh hay Thượng đế, hoặc hơn thế nữa. Ngài chưa bao giờ bảo Ngài có quyền năng ban phước cho những ai kính tin Ngài, sùng bái Ngài, và giáng tai họa đến những ai không kính tin, không sùng bái Ngài. Đức Phật cho biết Ngài chỉ là người tìm ra chân lý và dẫn đường cho chúng sinh đến với chân lý đó; Ngài là người đã thoát khổ và chỉ cho chúng sinh biết phương pháp thoát khổ đó. Có thấy được chân lý hay không, có thoát khổ hay không, tất cả hoàn toàn tùy thuộc vào sự nỗ lực của mỗi cá nhân.
Đức Phật không thể làm cho chúng sinh này thoát khổ, khiến cho chúng sinh kia giải thoát, giúp chúng sinh nọ được an vui. Ngài chỉ có thể nói cho chúng sinh biết làm thế nào để thoát khổ, làm thế nào để được an vui; Ngài dạy cho chúng sinh biết con đường để chứng ngộ chân lý. Tóm lại, như Đức Phật đã nói, Ngài chỉ là bậc Đạo sư, vị Thầy chỉ đường.
Đức Phật là người hướng đạo, là người chỉ đường, còn đến đích, đạt được mục tiêu hay không, sớm hay muộn là do chúng ta, chúng ta có chịu đi hay không, chúng ta đi mau hay chậm.
Đức Phật dạy về Nhân quả, Nghiệp báo, Duyên sinh, Vô thường, Vô ngã, chỉ rõ bản chất của đời sống. Đức Phật dạy về Tứ đế, Bát chánh đạo, chỉ rõ nguyên nhân của khổ, phương pháp diệt khổ và an lạc hạnh phúc có được sau khi đoạn tận nguyên nhân của khổ. Nhưng đôi khi chúng ta không quan tâm, không nhớ những lời dạy của Ngài, không đi theo sự chỉ đường của Ngài để có được những gì mình mong muốn, mà chúng ta lại chạy theo những ảo tưởng mê lầm, niềm tin mù quáng, chúng ta làm theo cảm tính, đến với Ngài bằng niềm tin và những hành động mê lầm.
Đức Phật khẳng định chúng ta là hải đảo tự thân, là nơi nương tựa của chính mình. Ngài dạy chúng ta đừng tìm cầu nương tựa nơi ai khác, kể cả Ngài. Đức Phật dạy chúng ta chính là người bảo hộ cho mình, không ai có thể bảo hộ chúng ta ngoài chúng ta.
“Chính các ngươi là kẻ bảo hộ cho các ngươi, chính các ngươi là nơi nương tựa cho các ngươi”
- Kinh Pháp cú, kệ 380 -
Tuy nhiên chúng ta lại không có lòng tin nơi chính mình, không đủ sáng suốt và lòng kiên định để tin tưởng và mạnh dạn thực hành lời Đức Phật dạy, đi trên con đường mà Ngài đã vạch ra hướng chúng ta đến an vui, hạnh phúc.
Khi gặp khó khăn, bất hạnh, khi đối mặt với những biến cố cuộc đời, do lúc bình thường không có sự rèn luyện và tu tập, không học và thực hành lời Đức Phật dạy nên chúng ta hoảng loạn, cuống cuồng chạy tìm nơi nương tựa, tìm nơi bảo vệ mình. Thay vì đến chùa cầu đạo, tìm phương pháp tu tập chuyển hóa khổ đau, thay đổi bản thân và hoàn cảnh để có được an lạc, hạnh phúc, chúng ta lại đến chùa cầu khẩn, xin phép mầu, cúng giải hạn; tụng kinh, trì chú cốt để cầu sự bảo hộ nơi các vị Bồ-tát, thiện thần.
Thế nhưng:
 “ Dù xem hết kinh A Di Đà, niệm suốt chú Đại bi, thì trồng dưa vẫn được dưa, trồng đậu vẫn được đậu. Kinh chú vốn từ bi, oan kết làm sao cứu? Soi xét lại tâm mình xưa nay, ai làm thì người ấy chịu”
 - Tế Điên Hòa thượng cảnh thế văn -
“ Bởi vì sự báo ứng của việc thiện ác như bóng theo hình, nhân quả trong ba đời xoay quanh chẳng mất ”
- Kinh Niết-bàn -
Hễ gieo nhân thì sớm muộn gì cũng gặt quả, gieo nhân thiện thì gặt quả lành trong đời này hoặc đời sau, gieo nhân bất thiện thì gặt quả khổ ở tương lai hoặc ngay trong hiện tại. Hành động tốt hay xấu, thiện hay bất thiện đều từ tâm mà sinh ra, cho nên phải thường quán chiếu, soi xét tâm mình, đừng để tâm chạy theo những điều xấu xa, tội lỗi, phải luôn giữ tâm trong sạch, hướng tâm đến những điều chân chánh, thiện lành.
Khi tâm được giữ trong sạch, khi tâm đã hướng thượng thì hành vi của bản thân trở nên thánh thiện, lời nói và việc làm của chúng ta đưa đến những kết quả tốt đẹp, đó là phản ứng của hành động theo quy luật nhân quả. Dù chúng ta không mong muốn, nó cũng diễn ra như vậy. Còn khi chúng ta gieo nhân bất thiện bằng những suy nghĩ, lời nói, hành động xấu, ác có hại cho mình, cho người, hoặc có hại cho cả hai thì dù không muốn nhận lãnh quả báo xấu, sớm hay muộn quả báo xấu cũng sẽ đến.
Trong kinh Pháp cú (kệ 1, 2), Đức Phật dạy: “Trong các pháp (các hiện tượng, sự vật), tâm dẫn đầu, tâm làm chủ, tâm tạo tác. Nếu nói hoặc làm với tâm ô nhiễm (bất thiện…), thì sự khổ sẽ theo nghiệp kéo đến như bánh xe lăn theo chân con vật kéo; Nếu nói hoặc làm với tâm thanh tịnh, thì sự vui sẽ theo nghiệp kéo đến như bóng theo hình”.
Muốn đuợc an vui hạnh phúc thì phải tránh xa điều ác, bất thiện, phải làm nhiều điều lành, điều thiện. Muốn thoát khổ thì phải chuyển hóa tâm (ăn năn sám hối những lỗi lầm, tội nghiệp đã tạo trong quá khứ: những đời trước hoặc quá khứ đời này; tích cực gieo trồng nhân duyên thiện lành, thực hành lời Phật dạy, tu tập ba nghiệp thân, khẩu, ý). Không có Phật, Bồ-tát hay bất cứ thần linh nào có năng lực giải nghiệp, giải khổ cho chúng ta, bởi vì các Ngài không thể làm trái luật nhân quả.
Nếu Phật, Bồ-tát, thần linh có thể giải nghiệp, giải khổ cho chúng sinh thì Đức Phật đâu cần nhọc công mở ra nhiều phương tiện, dạy nhiều pháp môn tu tập chuyển hóa, nói hàng ngàn bài kinh để chỉ cho chúng sinh cách thoát khổ và có được an vui hạnh phúc.
Nếu Phật, Bồ-tát, thần linh có thể giải nghiệp, giải khổ cho chúng sinh thì với lòng từ bi, các Ngài đã độ cho tất cả chúng sinh thoát khổ, độ cho tất cả chúng sinh thành Phật, chứng nhập Niết-bàn lâu rồi, đâu còn cảnh chúng sinh nheo nhóc hụp lặn trong biển khổ sinh tử luân hồi. Chính vì mỗi chúng sinh phải tự mình giải khổ cho mình bằng cách tu tập chuyển hóa chứ không một ai có thể làm thay thế, cho nên cho tới hôm nay vẫn còn chúng sinh luân hồi trong lục đạo, chư Phật, Bồ-tát vẫn còn phải thị hiện Ta-bà để giáo hóa, chỉ đường. 
Là Phật tử có chánh kiến và chánh tín, chúng ta lạy Phật là vì kính đức từ bi, hỷ xả, vô ngã, vị tha, công hạnh lợi sinh rộng lớn của Phật. Niệm Phật là ghi nhớ công hạnh, ơn đức của Phật, xem Phật là tấm gương sáng để học tập, noi theo. Đọc tụng kinh điển là ôn lại lời Phật dạy, nghiên cứu, tìm hiểu nghĩa lý cao sâu để áp dụng vào đời sống, tu tập chuyển hóa bản thân, làm lợi ích cho mình và nhân quần, xã hội.
Lễ lạy Đức Phật, niệm danh hiệu Phật, tụng kinh, trì chú cũng là phương tiện giúp nhiếp tâm định niệm, khiến cho tâm thanh tịnh, trong sáng, từ đó phát sinh trí tuệ. Khi làm chủ được tâm mình, tâm không còn bị ác duyên, các bất thiện pháp bên ngoài lôi kéo, dẫn dắt đồng thời trí tuệ phát sinh, thì chúng ta có thể giải quyết được các vấn đề khổ đau trong đời sống một cách hiệu quả.

Diệu Thể

Thứ Năm, 22 tháng 2, 2018

Nguồn gốc của Thực dưỡng

" Hãy để thực phẩm làm thuốc của bạn và thuốc men chính là thực phẩm của bạn "

- Hippocrates - 



NGUỒN GỐC CỦA THỰC DƯỠNG

Có thể nói rằng Hippocrates là người đầu tiên định nghĩa Macrobiotics với lời trích dẫn của mình : “Hãy để thực phẩm làm thuốc của bạn và thuốc men chính là thực phẩm của bạn”

Ohsawa không bao giờ tuyên bố là người sáng lập hoặc người khởi xướng Thực dưỡng – Macrobiotic (một thuật ngữ có nghĩa là “cuộc sống hay sức sống vĩ đại “). Ông luôn luôn trao sự tín nhiệm này cho người thầy của mình, một bác sĩ Nhật Bản, Sagen Ishizuka, và cả hai người đều đã có được những cảm hứng từ cuốn “The Yellow Emperor’s Classic of Internal Medicine” (Hoàng Đế Nội Kinh), các tác phẩm kinh điển của Shinto (Một tôn giáo bản địa Nhật Bản), và các tác phẩm của Kaibara Ekiken và Mizuno Nanboku. Manabu Nishibata, một đệ tử của của Ishizuka, cũng đã có một ảnh hưởng quan trọng đối với Ohsawa.
Cuốn Hoàng Đế Nội Kinh có thể được viết ra khoảng 500 trước Công nguyên, là một bộ tài liệu biên soạn về sự thông thái Y học của người Trung Quốc cổ đại. Nó cho rằng có một mối quan hệ sâu xa giữa thực phẩm, y tế, và bệnh tật, và cho rằng thực phẩm là một phương tiện quan trọng trong việc điều trị bệnh. Tầm quan trọng đặc biệt và sức mạnh của hạt ngũ cốc trong việc duy trì và phục hồi sức khỏe đã được nêu rõ. Ohsawa thường trích dẫn lời khuyên trích từ cuốn sách đó “Người thật sự chính chắn không chỉ quan tâm đến việc chữa trị bệnh tật, mà còn quan tâm đến việc phòng ngừa bệnh tật.” Dinh dưỡng và y học được xem là các lĩnh vực có liên quan rất chặt chẽ,  và sức khỏe được xem là phần thưởng tự nhiên của một cuộc sống tự chủ và điều độ, sống phù hợp với các qui luật của tự nhiên
Các sách kinh điển đạo Shinto như Kojiki (biên soạn năm 712 AD) và Nihonshoki (720 AD) nói rằng thần thực phẩm đã tạo ra “ngũ cốc” (có cả đậu nành và đậu đỏ) từ cơ thể của mình để làm phương tiện nuôi dưỡng con người. Trên hơn một ngàn năm, tại ngôi đền nổi tiếng nhất của Nhật Bản ở Ise, vị thần này đã được thờ cúng dưới hình thể của hạt gạo lứt đỏ. Gạo và các thực phẩm khác đã luôn luôn đóng một vai trò chủ yếu trong nghi lễ hàng năm.
Ekiken Kaibara (1630-1714) là một sinh viên nghiên cứu về nền văn học Trung Quốc và y học phương Đông, người cũng đã viết về triết học (chủ yếu là Nho giáo), đạo đức, giáo dục, và lịch sử tự nhiên. Trong cuốn sách có ảnh hưởng lớn của ông, cuốn Yojokun (Luận về Sự dinh dưỡng của cuộc sống), ông mô tả một chế độ để duy trì sức khỏe tốt bằng cách tránh tất cả những sự nuông chiều bản thân. Ông khuyến khích mọi người “ăn ít, ngủ ít hơn, ít ham muốn,”  tránh ăn thịt, và thực hành một hình thức tự xoa bóp gọi là Do-in. Kaibara tin rằng sự kế thừa của con người khôn ngoan là say mê thích thú với những thú vui đơn giản nhưng sâu sắc của trời đất, và sống thọ 100 tuổi.
Nanboku Mizuno, người đã sống trong khoảng từ giữa những năm 1700 và đầu những năm 1800 là cha đẻ của thuật xem tướng Nhật Bản. Sau nhiều năm nghiên cứu và quan sát trong vai trò của một tiếp viên trong một phòng tắm công cộng Nhật Bản, một thợ cắt tóc, và công nhân tại nhà hoả táng, ông đã viết tác phẩm kinh điển vĩ đại về thuật tướng số, cuốn “Soho Nanboku “ ( Phương pháp xem tướng Nanboku), một công trình mười tập xuất bản giữa những năm 1788 và 1805. Ông cảm thấy rằng tính cách và khí chất trong quá khứ và tương lai của con người có thể được thấy được bằng cách quan sát cẩn thận  các đặc điểm về thể chất, và nói rằng người ta có thể thay đổi tuổi thọ được thừa hưởng của họ bằng một chế độ ăn uống thích hợp.
Tiến sĩ Sagen Ishizuka (1850-1910) đã lớn lên và được đào tạo vào thời điểm khi văn hóa phương Tây, bao gồm cả nền y học và dinh dưỡng “khoa học”  được nhập khẩu vào Nhật Bản. (ví dụ, vào năm 1883, chính phủ Nhật Bản nghiêm cấm việc thực hành các kỹ thuật y học cổ truyền như châm cứu, thuốc thảo dược, và xông hơi, và Nền y học phương Tây được thiết lập như là chế độ điều trị bệnh tật chính thức). Bị đau đớn bởi bệnh nhiễm trùng thận, chàng trai trẻ Ishizuka đã không thể tự chữa bệnh bằng y học phương Tây, do đó, ông chuyển sang nghiên cứu về y học phương Đông. Việc này đã trở thành mối quan tâm suốt đời ông về thực phẩm và sức khỏe, trong khi đó,  ông đang làm việc với tư cách là một bác sĩ trong quân đội. Năm 1897 ông xuất bản các kết quả nghiên cứu của mình trong một tác phẩm đồ sộ có tựa đề là  “A Chemical-Nutritional Theory of Long Life” (Lý thuyết về hóa chất và dinh dưỡng của cuộc sống thọ). Một phiên bản phổ biến về công việc kỹ thuật đầy khó khăn này xuất hiện vào năm 1899 là cuốn “A Nutritional Theory of the Mind and Body: A Nutritional Method for Health.” (Lý thuyết dinh dưỡng tâm thể: Một phương pháp dinh dưỡng vì sức khỏe.) Cuốn sách thứ hai này rất phổ biến, và được tái bản 23 lần.
Nghiên cứu của Ishizuka  đã đưa ông đến việc kết luận rằng sự cân bằng của chất muối Kali (K) và Natri (Na) trong cơ thể là yếu tố quyết định chính đối với sức khỏe, rằng thực phẩm là yếu tố chính trong việc duy trì sự cân bằng này, và vì thế mà thực phẩm phải là cơ sở trong việc chữa bệnh và duy trì sức khỏe. Thực phẩm là vị thuốc cao cấp. Con người về bản chất, thuộc về lúa gạo nên chế độ ăn uống tối ưu của con người cần phải dựa vào cốc loại, là loại có tỷ lệ K / Na khoảng 2,5.
Ishizuka thấy người phương Tây là những người bị Na chi phối (những sản phẩm động vật giàu natri -sodium) được đặc trưng hóa bằng chủ nghĩa vật chất, tính ích kỷ, cá nhân hóa, và có chiều hướng thỏa mãn các giác quan.
Sau khi nghỉ hưu Ishizuka cống hiến mình để giảng dạy và mở phòng mạch tư nhân. Năm 1908, ông và các đệ tử của mình thành lập phong trào Shokuyo-kai (phong trào thực phẩm dinh dưỡng ), để dạy cho mọi người về những vấn đề phiền toái khi áp dụng chế độ ăn mới theo phương Tây, nhiều thịt, đường và các loại thực phẩm tinh chế. Họ kêu gọi sự quay về với chế độ ăn truyền thống của Nhật Bản dựa trên cốc loại  nguyên hạt, rau, và các thức ăn từ đậu nành.  Hàng ngày, Ishizuka đã khám bệnh cho nhiều bệnh nhân và chữa khỏi cho họ bằng thực phẩm. Ông nổi tiếng nhờ vào sự thành công trong việc chữa lành những căn bệnh được cho là không thể chữa được bằng các phương pháp tiêu chuẩn của phương Tây.
Như vậy, trong khi hầu hết người Nhật đã bị cuốn trôi bởi cơn thủy triều Tây phương hóa, dần dần từ bỏ nền văn hóa và truyền thống riêng của họ (bao gồm cả thực phẩm và nghệ thuật chữa bệnh), thì Ishizuka và các cộng sự đã xem xét xu hướng này một cách nghiêm túc; họ đã cố gắng vay mượn và chỉ tổng hợp những điểm tốt, trong khi đó bảo toàn được “bản chất quốc gia Nhật Bản” đang có nguy cơ biến mất.
Tiến sĩ Manabu Nishibata, Một môn đệ của Ishizuka, đã phát triển một khái niệm cơ bản cho rằng thực phẩm nên được lựa chọn theo nguyên tắc của Shin-do fu-ni, có nghĩa là “thân thể và trái đất không phải là hai.” Theo đó, con người dân  phải chăm sóc môi trường của họ như chăm sóc chính cơ thể của họ, vì trong thực tế, cả hai đang liên tục chảy vào nhau. Tương tự như vậy, mọi người phải học được niềm vui trong việc hòa cùng dòng chảy với các nhịp điệu theo các mùa chính yếu của trái đất, trong việc chọn lựa các loại thực phẩm theo thời gian và địa điểm, có tại địa phương và trong mùa vụ, hài hòa với trật tự của vũ trụ.

SỰ PHÁT TRIỂN CỦA THỰC DƯỠNG
George Ohsawa đã hoàn toàn hồi phục sau khi bị bệnh lao phổi và lao ruột kết vào năm 1911 bằng cách sử dụng một chế độ ăn uống do Tiến sĩ Sagen Ishizuka  đề xuất. Chế độ ăn uống này chủ yếu là việc ăn uống các loại thực phẩm sống tự nhiên có trong mùa vụ. Bác sĩ Ishizuka là một bác sĩ quân y đã có nhiều thành công lớn lao trong việc giúp cho nhiều người phục hồi sức khỏe sau khi mắc phải những vấn đề sức khỏe nghiêm trọng  vào thời ấy. Ông đã thực hiện nhiều thử nghiệm lâm sàng và xuất bản 2 tập sách lớn về những công trình của mình. Lý thuyết của ông nằm ở sự cân bằng chính xác của Potassium (Kali) và Sodium (Na) cũng như sự cân bằng chính xác giữa mức độ axit và kiềm trong chế độ ăn uống của con người sẽ dẫn đến một sức khỏe tốt.
Ohsawa đã rất biết ơn khi có một cuộc sống mới an vui nên ông dành phần đời còn lại của mình để tiếp tục công việc của Tiến sĩ Ishizuka. Ông sử dụng từ “macrobiotic,” một thuật ngữ viết theo từ Macro trong ngôn ngữ Hy Lạp, có nghĩa là vĩ đại, và bios có nghĩa là cuộc sống, như những gì ông đã phát hiện khi đọc tác phẩm của Hufeland. Dự định của ông là tạo ra một chế độ ăn uống và triết thuyết để giúp mọi người sống một cuộc đời đạt mức hoàn hảo nhất.
Từng cận kề cái chết, và xem mỗi ngày còn sống là quà tặng từ ơn trên, Ohsawa đã quyết định làm những điều tốt đẹp nhất cho mọi người trong suốt phần đời còn lại của mình.
Có lẽ do kết quả từ trải nghiệm cận kề cái chết nên Ohsawa đã nhấn mạnh rất nhiều vào sự biết phán đoán, sự nhận thức và biến nó thành một trong 7 tiêu chí thiết yếu để có sức khỏe tốt . Trong các bài viết của mình, Ông cảm nhận rõ rằng cuộc sống rất quý giá và ít có kiên nhẫn với những người không tự ràng buộc đầy đủ với cuộc sống và không tôn trọng thân thể của mình. Ohsawa đã phát triển một triết lý phù hợp với các ý tưởng của Bác sĩ Ishizuka về thực phẩm, và ông đã viết gần 300 cuốn sách trong đời mình.
Nền tảng của thực dưỡng nằm ở chỗ mỗi người trong chúng ta phải chịu trách nhiệm về cuộc đời và sức khỏe của chính mình.
Vào thời điểm đó, đây là một tư tưởng tiên phong cấp tiến. Con người có khuynh hướng chỉ sống cho mình và khi ốm đau thì đến bác sĩ khám bệnh và dùng thuốc chữa bệnh. Có quá ít sự quan tâm đối với thức ăn, thức uống. Ohsawa đã có đủ cảm hứng, năng lực để chuẩn hóa môn Thực dưỡng nhờ những lời dạy của Kaibara Ekiken, Andou Shōeki, và Mizuno Namboku cũng như những lời dạy của Sagen Ishizuka và các đệ tử  như  Manabu Nishibata và Goto Shojiro.
Theo những người ủng hộ Thực dưỡng, nhiều nền văn hóa truyền thống tồn tại lâu dài , chẳng hạn như nền văn hóa của người Inca và người Trung Quốc trong thời đại nhà Hán, đã áp dụng các phương pháp thực dưỡng. Ohsawa đã rút  từ nền y học dân gian châu Á và Nhật Bản những điều tinh tế để tạo ra phiên bản riêng của mình về triết thuyết sức khỏe này.
George Ohsawa đi lại  khắp nơi và  truyền bá thông điệp của mình ở bất cứ nơi nào ông đến. Ông tổ chức và điều hành các khóa học về Thực dưỡng, và tại Nhật Bản ông đã đào tạo được một nhóm học viên và những người này đã đến với  thế giới và phổ biến thực dưỡng tại các châu lục khác.
Năm người trong số đó, Michio & Aveline Kushi, Herman, Cornelia Aihara & Shizuko Yamamoto đến Bắc Mỹ. Những người khác đến Pháp, Đức và Brazil.
Thành tựu vĩ đại nhất của họ là phổ biến thành công tại phương Tây một dải lớn hệ tư tưởng Nhật bản và Trung Hoa, những điều thực tiễn và các sản phẩm mở đường cho phong trào thực dưỡng phát triển.
Trong chương trình phát triển thực dưỡng, họ đã đưa vào những kiến thức và thực nghiệm khác như là Phương pháp xoa bóp trị liệu shiatsu, do in ( Tập luyện khai thông kinh mạch, tập thở, tập khí lực và thiền định, tự xoa bóp), chiêm tinh học, 9 Ki, thiền định, chữa bệnh bằng cách đặt tay truyền năng lượng, cầu nguỵện, kinh dịch và sự chẩn đoán bệnh tật theo phương Đông
Trong thập niên 60, phong trào thực dưỡng thu hút nhiều người có tinh thần phiêu lưu, tư tưởng tự do, những người muốn đến với một cuộc sống khác, một cuộc sống thay cho lối sống vật chất hóa hiện đang dẫn đưa con người đến với một chế độ ăn uống nghèo dinh dưỡng và trong  một số trường hợp, làm cho sức khỏe yếu kém.
Thời gian trôi qua, những ngôi nhà dùng làm nơi nghiên cứu thực dưỡng phát triển thành những trung tâm thực dưỡng đúng nghĩa khắp nước Mỹ và châu Âu. Tại các trung tâm này người ta có thể tìm hiểu về những ý tưởng đằng sau việc ăn uống dưỡng sinh và cách thức nấu các món ăn.  Trong khi trước đó chỉ có những người bị coi là  lập dị  tham gia thực dưỡng chấp nhận một lối sống thay thế,  thì vào những năm 1970, thực dưỡng bắt đầu hấp dẫn tất cả các thành phần khác trong xã hội  như các bác sĩ, các chuyên gia y tế, diễn viên, vận động viên thể thao, các doanh nhân và chính trị gia.
Các trung tâm  và cộng đồng thực dưỡng mọc lên trong những năm 1970 và những năm 1980 đã trở thành nơi đến  nếu bạn muốn tìm hiểu năng lượng, về khí, âm dương, ngũ hành, bát quái và nghiệp. Trong thời gian này có sự bùng nổ sự quan tâm đến tất cả mọi thứ từ phía đông. Michio và các đồng nghiệp của ông cũng chịu trách nhiệm đưa đậu phụ, miso, rau biển, mận umeboshi, trà bancha  về phía tây.
Các thành viên của cộng đồng thực dưỡng hổ trợ  giúp đỡ việc thành lập các khoa ngành khác như châm cứu, võ thuật hiệp khí đạo (aikido), khí công.
Điều không thể tránh khỏi là nhiều hội đoàn, ngành nghề từng kết hợp với Thực dưỡng ở Mỹ và châu Âu đã lớn mạnh và cuối cùng đã tách rời ra khỏi gia đình thực dưỡng. Thời gian trôi qua, ngay cả những môn học như Khí, âm dương và ngũ hành không còn được coi là đặc biệt của riêng ngành thực dưỡng và y học thực dưỡng đã đi tiên phong trong cuối những năm bảy mươi, đầu thập niên tám mươi thì nay đã trở thành chủ đạo trong thập niên 1990.
Khi  những điều mới lạ mang đến cho phương Tây không còn hấp dẫn nữa thì xuất hiện cuốn sách của  Tiến sĩ Sattilaro “Recalled by Life” (Thực dưỡng chiến thắng ung thư) và cuốn sách viết về sự phục hồi sức khỏe từ căn bệnh ung thư này đã kích thích nhiều người đến với thực dưỡng với mục đích chữa lành được căn bệnh nghiêm trọng của họ. Bây giờ, thực dưỡng đã có chiều hướng nghiêm túc hơn với sự chú trọng vào việc chữa lành bệnh. Trong khi những thành công càng lúc càng nhiều và nhiều người đã viết về sự phục hồi của mình từ nhiều căn bệnh ung thư khác nhau nhờ vào thực dưỡng thì toàn bộ chế độ ăn uống dưỡng sinh được mọi người biết đến như một chế độ ăn uống chữa trị bịnh ung thư.
Một trong những kết quả của việc này là chế độ ăn trở nên tập trung hơn và rõ ràng hơn. George Ohsawa đã đặt sự nhấn mạnh vào việc chọn lựa các thực phẩm dưỡng sinh có lợi cho sức khỏe hơn là liệt kê ra một bản danh sách tất cả các loại thực phẩm được đề nghị cùng với các phương pháp khác nhau để nấu nướng chúng. Sử dụng kinh nghiệm to lớn của mình trong việc chữa bệnh,  Michio Kushi đã nêu một cách chi tiết những gì ông mô tả như là mộtchế độ ăn uống dưỡng sinh chuẩn. Sự phổ biến của thực dưỡng cùng với những người đã hồi phục sau khi bị bệnh nặng có nghĩa là chế độ ăn uống và phương pháp thực hành đã trở nên thuần túy hơn, với sự chú trọng nhiều hơn vào các loại thực phẩm sạch và có lợi cho sức khỏe.  Điều này có xu hướng làm cho những người đang tìm kiếm một phong cách sống chung khỏe mạnh không thấy thích thú nữa và thậm chí đã mang lại cho  phương pháp thực dưỡng tiếng tăm cực kỳ to lớn mặc dù phương pháp thực dưỡng có rất nhiều điểm trùng hợp với những khuyến nghị về ăn uống của Tổ chức Y tế Thế giới.
Khi được xem xét một cách trọn vẹn, thực dưỡng thể hiện một chế độ ăn uống căn bản trong phạm trù của sự cân bằng giữa axit và kiềm cũng như giữa natri và kali, là điều đã được khắc sâu bởi sự nghiệp của Sagen Ishizuka và sau đó là của Herman Aihira, cùng với các khái niệm như âm và dương và ngũ hành của George Ohasawa và được Michio Kushi phát triển nhiều hơn nữa . Nó thể hiện một chế độ ăn uống khỏe mạnh có nhiều carbohydrate phức hợp, trong khi đó, các loại thực phẩm có chỉ số gây biến động đường huyết cao thường có rất ít carbohydrate. Các loại thực phẩm được sử dụng suốt các giai đoạn  lịch sử của Thực dưỡng rất đa dạng và phù hợp với bất kỳ nền văn hóa hoặc khí hậu trên thế giới.
Thực dưỡng mà George Ohsawa đã viết về nó là một phương pháp linh hoạt, với nó, bạn có thể ăn bất cứ thứ gì miễn là bạn biết ảnh hưởng của nó đến sức khỏe của bạn, và đây chính là điều mà bạn muốn. Ông liệt kê chế độ ăn bao gồm cả thịt đến việc nhịn không ăn gì cả ngoài cốc loại trong một vài ngày.
Để thực sự hiểu biết về Thực dưỡng, điều thật hữu ích là nghiên cứu tất cả các bước thăng trầm suốt lịch sử hơn 200 năm của nó và xem xét nó thật trọn vẹn. Từ điểm ưu thế này bạn có thể đi theo một dạng thực dưỡng thích hợp nhất đối với bạn và những nhu cầu hiện có của bạn. Thực dưỡng có một lịch sử phong phú đầy màu sắc và nó sẽ có một cái gì đó tốt đẹp cho riêng từng người.

Nguồn bepthucduong.com

Thứ Tư, 14 tháng 2, 2018

Làm thế nào

Một phụ nữ gọi điện hỏi chuyên gia tư vấn đời sống vợ chồng:
– Ông có thể giúp tôi được không? Paul rất yêu tôi và tôi cũng rất yêu anh ấy. Chắc chắn chúng tôi sinh ra là để cho nhau và chúng tôi không thể sống thiếu nhau.
Vị chuyên gia nói:
– Thú thật tôi không thấy có vấn đề rắc rối gì cần giải quyết trong trường hợp của bà.
Người phụ nữ òa khóc:
– Có đấy. Và cực kỳ phức tạp đấy. Vấn đề tôi muốn nhờ ông tư vấn là Paul có thể làm thế nào với vợ anh ấy và tôi có thể làm thế nào với chồng tôi.
-st-

Thứ Năm, 8 tháng 2, 2018

Ai dung ?

Ở một vùng nọ, có một Ngôi cổ Tự rất nổi tiếng, là nơi thu nhận, truyền dậy Đạo Pháp lớn nhất địa phương nà . Sư trụ trì ở đây cũng nổi tiếng là một vị cao tăng đắc đạo. Một lần, có người đệ tử ăn trộm đồ bị bắt quả tang , mọi người đều yêu cầu đuổi người này ra khỏi sư môn nhưng vị trụ trì không làm thế, ông lấy sự nhân từ khoan dung mà tha lỗi cho người đệ tử này. Nhưng chẳng được bao lâu, người này lại ăn trộm và bị bắt. Mọi người đều cho rằng tật xấu của anh ta khó sửa, yêu cầu trừng phạt nặng anh ta, nhưng vị Sư trụ trì vẫn không xử phạt. Các đệ tử vì vậy liền cùng nhau dâng thư lên Sư trụ trì , biểu thị nếu không xử phạt người này, họ sẽ xin được rời khỏi Chùa.
Sư trụ trì xem thư xong, liền gọi tất cả các đệ tử đến trước mặt nói: 
- “ Các con đều có thể hiểu rõ thị phi, đây là điều khiến ta vui mừng, an ủi, các con là học trò của ta, nếu các con cho rằng ta dạy không đúng, hoàn toàn có thể đi tìm chỗ khác, nhưng ta không thể không quản người trò hay trộm cắp này, bởi vì anh ta vẫn còn chưa phân biệt thị phi, nếu như ta không dạy anh ta, ai dạy anh ta đây ? Cửa Phật Từ bi như chúng ta còn không dung được anh ta thì ai dung đây ?  Thế nên, bất kể thế nào, cho dù các con đều rời bỏ ta, ta cũng không thể bỏ anh ta, vì anh ta cần ta giáo huấn, anh ta cần một nơi làm chỗ dung thân ”
Người đệ tử hay trộm cắp nghe thấy vậy liền quì sụp xuống dưới chân Sư Trụ trì , ứa nước mắt mà hứa rằng mãi mãi sẽ không bao giờ còn tái phạm nữa. Ít lâu sau , anh ta đã trở thành một trong những đệ tử suất sắc của Sư trụ trì.
-st-