Thứ Ba, 9 tháng 8, 2016
Dưa lê
Bò cày ruộng trở về, mệt quá nằm lăn ra đất nghỉ, thở phì phò. Chó đi ngang qua, thấy vậy bèn dừng lại hỏi han. Bò thở dài, nói:
- Anh bạn à, tôi thực sự mệt quá rồi. Ngày mai tôi không muốn ra đồng nữa, ở nhà nghỉ cho lại sức.
Hai con vật nói chuyện thêm một lúc rồi tạm biệt nhau. Trên đường, chó gặp mèo đang nằm vắt vẻo trên bờ tường. Chó nói:
- Này anh bạn, tôi vừa mới đi thăm bò. Anh ta than mệt, còn nói muốn nghỉ làm một ngày. Kể ra cũng tội, chủ nhân đúng là đã bắt anh ấy làm việc nhiều quá rồi.
Mèo quay người, nói với dê đang ăn cỏ gần đó rằng:
- Anh biết tin gì chưa? Bò trách chủ nhân bắt mình làm nhiều việc nên muốn nghỉ một ngày, mai không ra đồng nữa đấy.
Một lúc sau, dê gặp gà, liền nói:
- Bò không muốn làm việc cho chủ nhân nữa, chị gà mái ạ. Anh ta than là công việc nhiều quá, mệt quá. Hầy, cũng không biết những chủ trang trại khác đối xử với bò của mình có tốt hơn chủ nhân chúng ta không nữa.
Gà lại nói với lợn:
- Anh bò sắp nghỉ làm ở đây rồi. Anh ta muốn đi tìm chủ nhân khác. Ai bảo chủ nhân đối xử với anh ấy tệ quá, bắt làm bao nhiêu là việc, lại còn dùng roi đánh anh ta nữa.
Gà cảm thán vài câu rồi lại tót về chuồng. Một lúc sau, vợ ông chủ đi chuẩn bị cho các con vật ăn tối. Lợn liền lại gần, nói:
- Tôi muốn báo cáo lại với bà một chuyện. Dạo gần đây, bò hay có những suy nghĩ nổi loạn, rất cần phải được dạy bảo lại. Anh ta không muốn làm cho chủ nhân nữa, chê công việc ở đây nhiều quá, nặng quá, khiến anh ta mệt mỏi. Bò còn nói muốn bỏ đi, tìm một chủ nhân khác nữa đấy.Nhận được phản ánh của lợn, trong bữa tối, bà chủ lập tức đem chuyện nói lại với chồng:
- Mình ơi, bò đang muốn tạo phản. Nó muốn đổi chủ, không làm cho mình nữa. Tội tạo phản không thể tha, mình định xử nó thế nào?
- Kẻ phản bội đều đáng tội chết, giết không tha! – Ông chủ nghiến răng, tức giận nói.
Vậy là con bò đáng thương suốt ngày chỉ biết làm việc quần quật, cuối cùng lại bị những lời truyền miệng sai sự thật giết chết như vậy đấy.
-st-
Thứ Hai, 8 tháng 8, 2016
Hai Mặt
Sự
Thật có 6 chữ
Giả Dối cũng 6 luôn
Mặt trái và mặt phải
Trắng đen ôi khó lường!
Tình Yêu có 7 chữ
Phản Bội cũng thế thôi
Chúng là hình với bóng
Rất dễ dàng đổi ngôi.
Chữ Yêu là 3 chữ
Hận là 3, giống nhau.
Người say men hạnh phúc
Kẻ thành.. Lý Mạc Sầu.
Bạn bè có 5 chữ
Kẻ thù đếm cũng năm
Hôm nao lời ngọt mật,
Hôm nay chìa dao găm.
Từ Vui có 3 chữ
Tiếng Sầu cũng đồng như.
Quá vui thường mất trí,
Mất trí đời đổ hư.
Chữ Khóc có 4 chữ
Cười cũng vậy, giống in
Ai "giòn cười, tươi khóc''
Ấy cảm thọ nhận chìm.
Chữ Đạo gồm 3 chữ
Đời cũng rứa, là ba
Đời thường hay ôm giữ
Đạo buông xả, cười xòa.
Cuộc sống là hai mặt
Giới tuyến một đường tơ .
Chấp nhận mà không vướng
Nhẹ bước qua hai bờ.
Giả Dối cũng 6 luôn
Mặt trái và mặt phải
Trắng đen ôi khó lường!
Tình Yêu có 7 chữ
Phản Bội cũng thế thôi
Chúng là hình với bóng
Rất dễ dàng đổi ngôi.
Chữ Yêu là 3 chữ
Hận là 3, giống nhau.
Người say men hạnh phúc
Kẻ thành.. Lý Mạc Sầu.
Bạn bè có 5 chữ
Kẻ thù đếm cũng năm
Hôm nao lời ngọt mật,
Hôm nay chìa dao găm.
Từ Vui có 3 chữ
Tiếng Sầu cũng đồng như.
Quá vui thường mất trí,
Mất trí đời đổ hư.
Chữ Khóc có 4 chữ
Cười cũng vậy, giống in
Ai "giòn cười, tươi khóc''
Ấy cảm thọ nhận chìm.
Chữ Đạo gồm 3 chữ
Đời cũng rứa, là ba
Đời thường hay ôm giữ
Đạo buông xả, cười xòa.
Cuộc sống là hai mặt
Giới tuyến một đường tơ .
Chấp nhận mà không vướng
Nhẹ bước qua hai bờ.
Thích Tánh Tuệ
Thứ Năm, 4 tháng 8, 2016
Quan điểm của Đức Phật về các mối quan hệ
" Không phải vẻ bề ngoài hay một ấn tượng tốt
đẹp thoáng qua, thể hiện hình ảnh thực sự của một con người "
*
*
Quan điểm của Đức Phật về các mối quan hệ
Sự chọn lựa kỹ
càng người để chúng ta giao tiếp thân mật, gần gũi là điều cực kỳ quan trọng
trong giáo lý của Đức Phật đối với người cư sĩ. Thật ra, Ngài đã có lần
khuyên các đệ tử của mình hãy chọn một cuộc sống độc cư, giống như cuộc sống
của một ‘con độc giác cô đơn", nếu họ không thể tìm được những người thích
hợp để làm bạn.
Đức Phật đã nhấn mạnh rằng
việc khéo chọn lựa các mối liên hệ mật thiết là quan trọng vì nó đóng góp vào
việc thiết lập những mối liên hệ thân ái và bền vững. Để chọn người thích
hợp, Đức Phật đã đề ra một quy trình bao gồm một số giai đoạn. Các giai
đoạn này đã được nhắc đến xuyên suốt trong các kinh tạng. Chúng được tổng
hợp ở đây để giúp chúng ta có một sự hiểu biết thấu đáo về lời Đức Phật dạy
trong việc chọn lựa bạn hay các mối tương giao như thế nào.
Những lời hướng
dẫn này không có ý khuyên ta nên xa lánh những người “không thích hợp”.
Đức Phật chẳng bao giờ cho phép đệ tử của Ngài được trách cứ người thô
lỗ, khó chịu, hoặc không tương xứng. Trái lại, Đức Phật khuyên họ phải
hiểu bản tính của người đó, để thể hiện lòng bi mẫn, và để dành cho người đó
một cơ hội để sửa đổi. Tuy nhiên, khả năng tương thích là một điều kiện
quan trọng trong việc chọn người để kết thâm giao. Giáo lý của Đức Phật
nhằm làm cho nỗ lực này được dễ dàng.
Bước 1: Hãy
để qua một bên các tiêu chuẩn cỗ hủ vô căn cứ
Các quan điểm cổ
xưa trong thời Đức Phật cho rằng giống nòi và giai cấp phải là yếu tố chính
trong việc chọn người để thắt chặt thâm giao, kể cả việc hôn nhân. Thí
dụ, người thuộc giai cấp Shudra chỉ có thể liên hệ thân thiết với những người
Shudra khác. Nhất là trong vấn đề hôn nhân, họ chỉ có thể chọn lựa người
thuộc giai cấp của mình. Đức Phật đã khởi xướng một phong trào dài hơi,
hiệu quả, chống lại những niềm tin vô lý này. Có lần Đức Phật đã nói
rằng: Ta không nên hỏi người khác về giai cấp hay nòi giống của họ để làm tiêu
chuẩn chấp nhận hay xa lánh người đó.[3] Và Ngài khuyến khích các đệ tử
của Ngài hãy để qua một bên vấn đề nòi giống, giai cấp, giới tính, và vẻ bề
ngoài khi chọn lựa người để kết thâm giao.
Thái độ minh bạch
này rất quan trọng không chỉ trong việc kết bạn thâm giao mà còn được dùng
trong việc chọn lựa người phối ngẫu. Giai cấp, nòi giống, và những khác
biệt xã hội khác không bao giờ nên là rào cản trong hôn nhân hay những liên hệ
mật thiết khác. Và khi thảo luận về những yếu tố để có được một cuộc hôn
nhân tốt đẹp, Đức Phật chẳng bao giờ khuyên người đệ tử tại gia chọn lựa người
phối ngẫu chỉ dựa trên giai cấp, nòi giống, hay thành phần xã hội của họ. Thay
vào đó, sự tương đồng về cách cư xử, giao tế là một trong những yếu tố chính mà
Đức Phật nhấn mạnh đến trong việc thiết lập một quan hệ hôn nhân tốt đẹp.
Đức Phật, xuyên
qua giáo lý của mình, đã nhấn mạnh đến sự nguy hiểm của việc thiết lập liên hệ
mật thiết với mộtbala, hay là một người chưa trưởng thành và không tương
đồng.[4] Trái lại, một pandita, là người đã hoàn toàn trưởng thành và
tương đồng. Đức Phật khuyên nên chọn một người như thế cho những mối liên
hệ gần gủi và có thể lựa chọn một cách không phân biệt từ bất cứ giai cấp, nòi
giống hay thành phần xã hội nào. Đức Phật luôn khẳng định rằng không phải
việc ta sinh ra ở đâu, thuộc giai cấp nào, mà cách hành xử đúng và sự tiến bộ
tâm linh mới là những yếu tố quyết định giá trị của một con người.[5]
Tương tự, theo
Phật giáo, giới tính cũng không phải là rào cản để người nam và người nữ không
thể duy trì bất cứ mối liên hệ thân thiết nào vì mục đích chung. Thí dụ,
các vị đệ tử xuất gia của Phật, tăng và ni, vẫn duy trì sự liên hệ thân thiết
vì mục đích chung là đạt được sự tự thanh tịnh và truyền bá lời Phật dạy trong
xã hội.
Hơn thế nữa, Đức
Phật khuyên rằng các vị ni cần sống gần các vị tăng vì vấn đề an toàn và để
được tư vấn, và các vị tăng cần thường xuyên thăm viếng và trao đổi với các vị
ni.[6] Sự liên hệ này được dựa trên sự hiểu biết về các mục tiêu của mỗi
người hơn là sự bám víu lẫn nhau. Cả hai phái được khuyên cần phải chánh
niệm về tình cảm của mình và luôn kiểm soát chúng.
Tóm lại, bước đầu
tiên trong việc chọn lựa những mối tương giao gần gủi thích hợp và thiết lập
các mối liên hệ mật thiết là không được kể đến giai cấp, thứ bậc, nòi giống, thân
phận và những yếu tố tương tự để làm tiêu chuẩn. Theo quan niệm của Đức
Phật, những yếu tố này không có căn cứ để biện hộ cho sự chọn lựa của họ.
Bước 2: Hãy
cẩn thận với ấn tượng ban đầu về người khác
Trong khi Đức
Phật bác bỏ các tiêu chuẩn dựa trên quan niệm cổ hũ để chọn lựa người giao
tiếp, Ngài cũng không tán đồng sự lựa chọn dựa trên những ấn tượng ban đầu và
tình cảm ban sơ. Thí dụ, một số người có thể rất khéo léo trong việc tỏ
ra họ là người hoàn toàn thích hợp cho một mối liên hệ hoàn hảo. Nhưng chúng
ta cần kiềm chế việc vội vàng kết luận rằng sự tự phác họa đó của họ là phản
ánh chân thực về bản chất thực sự của họ. Đức Phật đã nói hai câu kệ sau
đây để tóm tắt nhận định này:
Không thể biết rõ
tha nhân bằng vẻ bề ngoài của họ,
Mà cũng khó tin tưởng
họ sau ấn tượng ban đầu.
Đúng vậy, kẻ vô
đạo đức có thể rong chơi khắp nơi
Trong bộ áo của
người đạo đức.
Có người điểm
trang thói xấu của mình
Bằng hành động
thanh cao giả dối
Giống như đôi
bông tai bằng đồng, bằng đất
Được tô vàng sáng
chói.[7]
Thêm nữa, vẻ bề
ngoài của ai đó cũng không phải là một tiêu chuẩn đáng tin cậy để dựng nên một
chân dung thực sự của họ. Để nói đến vẻ bề ngoài, Đức Phật dùng thuật ngữ
vannarupa, có cả hai nghĩa là “vẻ bề ngoài”, và “hành vi”. Kể cả vẻ bề
ngoài đứng đắn và hành động có văn hóa cũng không đủ để đánh giá một con người.
Ngoài ra, sự quen
biết ngắn ngủi cũng không thể giúp ta hiểu biết rõ ràng về ai đó. Đức
Phật dùng thuật ngữittaradassana, có nghĩa đen là “thấy ít”, để ám chỉ một cuộc
tiếp xúc, gặp gở ngắn ngủi. Thật vậy, một cuộc tiếp xúc ngắn ngủi không
thể phản ánh hành vi, tư duy thực sự của một người, vì trong một thời gian
ngắn, người ta có thể che dấu bản chất thực sự của họ một cách khéo léo.
Tuy nhiên, hãy
nhớ rằng lời khuyên này không có nghĩa rằng những người dễ thương, lịch sự lúc
mới quen biết rất đáng nghi ngờ –vì những người bản tính hòa nhã có thể ngay
lập tức biểu lộ bản chất của mình như thế.
Bước 3: Hãy
tuân thủ quy trình của việc kết giao, quán sát và đánh giá
Trong khi bác bỏ
các tiêu chuẩn không đầy đủ chứng cứ như đã trình bày trên đây, Đức Phật hướng
dẫn cho đệ tử của Ngài một quy trình đơn giản để có thể hiểu người khác tốt hơn
–và từ đó chọn lựa những người tương hợp để kết thâm giao. Điều này,
ngược lại sẽ đóng góp vào việc thiết lập những mối liên hệ bền chặt và lành
mạnh. Quy trình đơn giản này như sau:
Kết giao với
người trong một thời gian.
Quan sát và đánh
giá lời nói và hành động của người đó.[8]
Đức Phật đã giải
thích quy trình này cho vua Kosala khi đức vua, có thể muốn trêu cợt, đã giới
thiệu với Đức Phật một nhóm cận vệ bí mật của ông là các vị chân tu đạo hạnh.
Vua Kosala trước hết chào hỏi những người gián điệp này một cách kính
trọng trước Đức Phật. Rồi sau khi họ đi khuất, nhà vua nói với Đức Phật:
“Các vị tu sĩ đó đã chọn con đường tiến bộ tâm linh”. Đức Phật trả lời
rằng sự phán đoán của nhà vua có thể sai vì nhà vua không có đủ chứng cớ hỗ trợ
cho nhận xét của mình.
Sau đó Đức Phật
giải thích: “Với mối liên hệ thân thiết, ngài có thể [bắt đầu để] hiểu
việc giữ giới luật, sự trong sạch và trí tuệ của người khác. Tuy nhiên,
sự liên hệ đó cần phải trải qua một khoảng thời gian không ngắn ngủi”[9].
Đức Phật nhấn mạnh rằng những sự giao tiếp ngắn ngủi không đủ để
giúp ta biết được người khác.
Với thời gian, con
người sẽ tự biểu lộ; và chúng ta cần phải giao tiếp, quán sát hành vi của họ
chặt chẻ để hiểu rõ hơn về bản chất thực sự của họ. Sau đó, chúng ta có
thể suy nghĩ, so sánh và đối chiếu với hành vi đã được quán sát. Để làm
rõ hơn quy trình này, Đức Phật dùng thuật ngữ manasikaroti, có nghĩa là “suy
nghĩ”, “giữ trong tâm”, và “nghĩ lại” –nói chung, có nghĩa là “sự đánh giá hành
động”.
Theo Đức Phật,
một yếu tố quan trọng cho bất cứ sự đánh giá đúng đắn nào là trí tuệ. Từ
Pali được dùng trong ý nghĩa này là pannavata, có nghĩa “bởi người sử dụng cái trí,
kỹ năng và trí tuệ”. Sự đánh giá cần phải có một căn bản hợp lý. Chúng
ta có thể so sánh, đối chiếu và giải mã nhiều hình thức khác nhau của hành vi
mà chúng ta đã quán sát; điều này cho phép chúng ta có được một bức tranh rõ
nét về người mà ta đã biết trong một khoảng thời gian.
Điều quan trọng
của sự đánh giá này nằm trong kết luận rằng chúng ta cần phải tìm người có nhân
cách hoàn chỉnh để thiết lập mối liên hệ mật thiết. Như đã nói trong
chương trước, Đức Phật dạy rằng tất cả những sự sợ hãi và lo âu phát xuất từ
những người chưa đủ trưởng thành, chưa phát triển đầy đủ, chứ không phải từ
những người có trí tuệ.[10] Việc đánh giá đúng hành động của tha nhân sẽ
giúp chúng ta tìm ra những người có trí tuệ khiến ta không phải lo âu hay sợ
hãi.
Bước 4:
Quan tâm đến sự tương đồng
Mục đích của quy
trình kết bạn, quán sát, đánh giá, là để quyết định xem đối tượng có thích hợp
để chúng ta thiết lập mối quan hệ. Vấn đề ở đây là sự tương đồng.
Để duy trì những mối liên hệ lành mạnh, Đức Phật bảo rằng các đối tượng
liên quan cần phải tương đồng.
Theo Đức Phật,
“tương đồng” không có nghĩa là hai người phải thuộc cùng một giai cấp xã hội,
hay nòi giống như đã nói ở trên, Ngài không chấp nhận những quan điểm xã hội này,
coi chúng là vô căn cứ, nông cạn. Theo quan điểm của Đức Phật, tương
đồng, tương xứng có nghĩa là hai người có những hành động và cư xử giống nhau.
Tìm ra những điểm tương đồng này là mục đích của cả quy trình kết bạn,
quán sát và đánh giá. Đức Phật đặc biệt nhấn mạnh đến tính chất quan
trọng của sự tương đồng trong mối quan hệ hôn nhân hạnh phúc.
* Bốn khía cạnh
của sự tương đồng
Đức Phật dạy rằng
hai thành viên có thể phù hợp với nhau, khi họ có bốn điều giống nhau sau đây:
- Cùng có lòng
tin vào việc phát triển tâm linh
- Cùng có lòng
tôn trọng giới luật
- Cùng có lòng
hâm mộ các hoạt động nhân đạo
- Cùng có trình
độ hiểu biết tương tự.[11]
Những sự giống
nhau này rất quan trọng để có được một cuộc hôn nhân hạnh phúc đến nỗi chúng ta
cần xem xét chúng kỹ lưỡng.
- Cùng có lòng
tin vào việc phát triển tâm linh
Để thiết lập và
duy trì một mối liên hệ lành mạnh, cả hai đối tác cần phải có niềm tin tương tự
về sự phát triển tâm linh (ubho janapatiyo samasaddha). Điều này không có
nghĩa là cả hai cần phải ráo riết theo đuổi con đường tâm linh. Tuy
nhiên, nó ngụ ý rằng nếu một thành viên có sự kính trọng sâu sắc đối với niềm
tin và sự thực hành tâm linh, mà người kia hoàn toàn không màng đến chúng, thì
hai người này không thể tương đồng.
- Cùng có lòng
tôn trọng giới luật
Theo sự quán sát
của Đức Phật thì sự tương đồng kế tiếp là cả hai đối tác cần phải có cái nhìn
tương tự đối với việc tự kiềm chế, tự kỷ luật (samasila). Khi một thành
viên rất có đạo đức mà người kia không có đạo đức, thì sự không tương xứng của
họ trở nên tương phản và sẽ tạo ra nhiều vấn đề trong mối liên hệ của họ.
Khi có dịp, chúng
ta sẽ thảo luận kỹ hơn về những gì mà Đức Phật muốn ám chỉ khi nói về “sự tự kiềm
chế” của người cư sĩ. Nói ngắn gọn là sự tôn trọng đối với việc gìn giữ
giới luật như là không sát hại và không trộm cắp là thí dụ của việc tự kiềm
chế. Nếu một thành viên quan tâm và gìn giữ giới luật rất nghiêm chỉnh,
thì người phối ngẫu của họ cũng cần phải như thế. Sự tương đồng này sẽ
khiến cho mối liên hệ của họ được dễ chịu và êm thắm.
- Cùng có lòng
hâm mộ các hoạt động nhân đạo
Một dấu hiệu khác
của sự tương đồng được Đức Phật nhắc đến là lòng hâm mộ các hoạt động nhân đạo.
Nhiều người có bản tánh ích kỷ, trong khi người khác thì có lòng nghĩ đến
tha nhân. Một cuộc hôn nhân trong đó hai người phối ngẫu thuộc về hai bản
tánh khác nhau như thế thì đó có thể là một sự phối hợp lầm lẫn, vì sự hành xử
và thái độ của họ sẽ không tương đồng.
Theo Đức Phật,
các hoạt động nhân đạo hay dana, còn được biết đến như là caga (hành động rộng
lượng, nhân từ), là những hành động tự nguyện của người cư sĩ đối với xã hội.
Dana (hạnh bố thí) có ba cách: bố thí tiền bạc, của cải vật chất; giúp
bảo vệ sinh mạng; dạy dổ và hỗ trợ tinh thần, hướng dẫn, dìu dắt. Khi
người chồng hay vợ sẵn sàng còn người kia thì miễn cưỡng khi thực hành dana cho
ta thấy sự không tương xứng rõ rệt giữa hai người.
- Cùng có trình
độ hiểu biết tương tự
“Trí tuệ” trong
Phật giáo có rất nhiều nghĩa, bao gồm, tri thức, khả năng, sức mạnh tinh thần,
sự trưởng thành về tình cảm, thái độ tiến bộ và khả năng lý luận. Sự
giống nhau trong các lãnh vực này (samapanna) thể hiện sự tương đồng giữa hai
thành viên. Điều này không có nghĩa là cả hai phải có cùng trình độ học
vấn, khả năng tư duy, vân vân; nó chỉ có nghĩa là sự khác biệt quá rộng trong
những lãnh vực này sẽ khiến họ không tương xứng và sẽ dẫn đến những xung đột
trong mối liên hệ của họ. Đức Phật nhắc nhở các đệ tử tại gia của Ngài
cần phải lưu tâm đến yếu tố này khi chọn lựa người phối ngẫu.
Tóm tắt
Đức Phật đã ban
cho cộng đồng cư sĩ những lời hướng dẫn rất hữu ích trong việc chọn lựa các mối
quan hệ bằng hữu và hôn nhân. Ngài khẳng định rằng các quan niệm cổ hũ,
khuôn sáo về con người không giúp ta trong việc chọn hay xa lánh người khác khi
kết thân. Tương tự, cảm tính và những ấn tượng ban đầu cũng không phải là
những tiêu chuẩn đáng tin cậy để phán đoán sự tương xứng của con người.
Thay vào đó, Đức Phật khuyên, hãy kết bạn, quán sát, và phán đoán hành
động của tha nhân sẽ giúp ta quyết định xem họ có thích hợp để kết mối thâm
giao không. Nhất là trong việc chọn lựa đối tượng để kết hôn, cần được
dựa trên sự tương xứng lẫn nhau. Cùng có lòng tin vào sự phát triển tâm
linh, giới luật và các hoạt động nhân đạo, cũng như một trình độ hiểu biết
tương xứng, sẽ xác định được sự tương đồng của hai người phối ngẫu.
Tỳ kheo Tiến sĩ
Basnagoda Rahula
Diệu Liên Lý Thu Linh Chuyển ngữ
" Lời dạy của Đức Phật về sự thành tựu trong
gia đình, nơi công sở, ngoài xã hội "
* Tăng Chi Bộ Kinh
* Chùa Linh Ẩn,Hàng Châu ,Trung Quốc - nơi tu tập của Tế Điên Hòa Thượng
*Chú thích:
[1] Câu trích từ Samyutta Nikaya I (Tương Ưng Bộ Kinh): Kosala
Samyutta: Kinh Sattajatila, 173-174
[2] Sutta Nipata (Kinh Tập): Phẩm Uraga: Kinh
Khaggavisana
[3] Samyutta Nikaya I
(Tương Ưng Bộ Kinh I): Brahmana Samyutta: Kinh Sundanka, 262-263
[4] Anguttara Nikaya I (Tăng Chi Bộ Kinh I): Phẩm
Bala
[5] Sutta Nipata (Kinh Tập): Uraga : Kinh Vasala
[6] Tăng Chi Bộ Kinh VIII: Phẩm Gotami: Kinh
Gotami
[7]Tương Ưng Bộ Kinh I: Kosala Samyutta: Kinh
Sattajatila 173-174
[8] Như trên
[9] Như trên
[10] Tăng Chi Bộ Kinh VIII: Phẩm Bala, Kinh
Bhaya
[11] Anguttara Nikaya IV (Tăng Chi Bộ Kinh IV): Phẩm
Punnabhisanda: Kinh Pathama Samajiva
Thứ Sáu, 15 tháng 7, 2016
Đi tìm Hạnh Phúc
" Hạnh phúc đến từ nội tại
Chớ hoài
công tìm kiếm bên ngoài "
- Lời Đức Phật -
ĐI TÌM HẠNH PHÚC
1- Hạnh phúc là gì?
Là người ai cũng
muốn sung sướng hạnh phúc, nhưng hạnh phúc là gì thì khó mà trả lời chính xác
vì nó tùy quan niệm và trình độ tiến hóa của mỗi người.
Đối với người
nghèo thì tiền của là hạnh phúc. Đang đói mà có cơm ăn là hạnh phúc. Cô đơn mà
có người thương là hạnh phúc.
Đối với đa số
quần chúng thì hạnh phúc là thỏa mãn những nhu cầu vật chất, thể xác như ăn
uống, tình dục, vợ đẹp con ngoan, nhà cửa tài sản.
Sau khi đạt được
những nhu cầu vật chất thì hạnh phúc là thỏa mãn nhu cầu
danh vọng, địa
vị, quyền hành như giám đốc, tỉnh trưởng, bộ trưởng, thủ tướng, tổng thống,
v.v...
Trên phương diện
tương đối ta có thể định nghĩa hạnh phúc là khi những nhu cầu thèm khát được
thỏa mãn. Nhưng sự thèm khát của con người không bao giờ chấm dứt. Khi chưa có
thì thèm muốn có, khi có rồi thì sợ mất, hoặc nếu không thì lại thèm muốn cái
khác. Do đó cái hạnh phúc mà người thế gian theo đuổi chỉ là một ảo tưởng,
tưởng nắm bắt được nhưng trong thoáng giây nó lại tuột mất và phải chạy đi tìm
nữa.
2- Hạnh phúc tương đối
Gọi là tương đối
vì loại hạnh phúc này mong manh tạm bợ.
Tiến trình hạnh
phúc (tương đối):
- Ban đầu Ý khởi
ham muốn, thèm khát một điều gì đó (désir),
- Khi đạt được
điều ham muốn thì sung sướng, khoái lạc (plaisir),
- Tiếp theo phải
ý thức là mình đã đạt được điều đó thì mới có hạnh phúc (bonheur).
Ở giai đoạn một,
ta là người thiếu thốn khi tâm khởi lên tham muốn. Sang giai đoạn hai, ta là
người sung sướng nhưng không khéo có thể rơi trở về giai đoạn một nếu thiếu ý
thức. Giai đoạn ba, ta là người có hạnh phúc, ý thức càng nhiều thì hạnh phúc
càng lâu.
Thí dụ khi đau
răng, ta chỉ thèm muốn làm sao hết đau răng là sung sướng lắm. Thời nay không
phải mới đau răng là có thể chạy ngay tới phòng mạch nha sĩ, ta phải lấy hẹn
trước ít nhất một, hai ngày. Đến khi được nha sĩ chữa hết đau răng, ta thở phào
sung sướng. Nhưng vừa hết đau răng, chưa kịp thưởng thức sự sung sướng đó thì
ta nghĩ ngay tới việc ăn uống, không biết lát nữa đi ăn nhà hàng nào ngon để bù
lại mấy ngày qua. Khi đau răng ta cầu "hạnh phúc hết đau răng", nhưng
khi hết đau răng thì không thấy hạnh phúc mà lại tiếp tục thèm muốn cái khác.
Ta đã để "hạnh phúc hết đau răng" tuột ngay khỏi tầm tay.
Hồi trước còn
nghèo, đi làm phải đi xe đạp hoặc xe công cộng nên tôi thèm có một chiếc xe
hơi, nếu có được xe hơi thì tôi sung sướng lắm. Sau này làm ăn khá giả có tiền
mua được xe hơi, mỗi ngày lái xe đi làm, ý thức được mình may mắn hơn nhiều
người khác nên tôi cảm thấy rất hạnh phúc. Ngày nào tôi còn nhớ (niệm) và ý
thức (tỉnh giác) được như vậy thì ngày đó tôi còn tiếp tục hưởng cái "hạnh
phúc có xe hơi".
Hạnh phúc luôn
luôn là hạnh phúc về cái gì? Hạnh phúc không có tự tánh, không thể tự nhiên mà
có. Hạnh phúc lâu bền hay ngắn ngủi tùy theo ta ý thức nhiều hay ít.
3- Hạnh phúc một mình
Chúng ta thường
đi tìm một cái gì bên ngoài để mang lại cho mình hạnh phúc như vật chất, nhà
cửa, xe hơi, máy móc, tiện nghi, ... hoặc tình cảm gia đình, thân quyến, bạn
bè, người yêu, ... hoặc danh vọng, địa vị, lý tưởng. Ta khát khao tìm kiếm vì
tưởng mình nghèo nàn, thiếu thốn, tâm luôn phóng ra ngoài chạy theo trần cảnh.
Trong kinh Pháp Hoa kể câu chuyện về đứa cùng tử suốt đời đi ăn xin vì không
biết trong túi mình có viên ngọc quý, đến khi được người bạn nhắc tỉnh ngộ lấy
ngọc ra xài liền hết đói khổ.
Bài quán chiếu
dưới đây nhắc bạn nhớ lại những viên ngọc quý mà bạn đã có, chỉ cần lấy ra dùng
là sẽ có hạnh phúc.
4- Quán chiếu hạnh phúc
Sau đây là 7 điều
quán chiếu hạnh phúc:
- Ta đang còn sống
- Ta có sức khỏe
- Ta có đủ sáu căn
- Ta có tự do
- Ta có tiện nghi vật chất
- Ta có tình thương
- Ta có sự hiểu biết
1/ Ta
đang còn sống
Trên đời này quý
nhất là sự sống. Tất cả sinh vật từ côn trùng, sâu bọ, thú vật cho đến con
người, loài nào cũng tham sống sợ chết. Giả sử bây giờ phải lựa chọn giữa trúng
số độc đắc mà chết và sạt nghiệp mà sống thì bạn sẽ lựa cái nào? Ở đời ai cũng
lo đi tìm tiền của, nhưng thật ra tiền của chỉ để bảo đảm sự sống an toàn, tiện
nghi. Có nhiều người giàu sang sẵn sàng chi hết tiền của để cứu lấy mạng sống.
Như thế đủ thấy sự sống quý hơn tiền bạc, quý hơn gấp trăm ngàn, triệu ngàn
lần. Ngay cả triệu đô la cũng không mua nổi mạng sống khi bị bệnh ung thư hay
sida (aids). Vậy mà sáng nay mở mắt thức dậy còn sống, bạn có thấy mình hạnh
phúc không?
Mỗi khi cảm thấy
khổ đau, chán nản hay tuyệt vọng thì hãy nhớ lại ta đang còn sống đây. Còn sống
thì còn tất cả.
2/ Ta
có sức khỏe
Sự sống quý nhất
trên đời, sức khỏe quý nhất trong sự sống. Có sức khỏe không có nghĩa là phải
khỏe như lực sĩ thế vận hội mà chỉ cần không đau nhức, bệnh hoạn, không có bệnh
trầm kha, nan y, v.v... Ở đời mấy ai tránh khỏi bệnh tật, không bệnh này thì
bệnh nọ. Bệnh nặng như ung thư hay sida phải có thuốc giảm đau như morphine mới
chịu nổi, nếu không thì đau đớn rên siết như bị hành hình ở địa ngục, bệnh nhẹ
như cảm cúm, sổ mũi, nhức đầu cũng làm cho ta mệt mỏi, khó thở, đau nhức. Mỗi
khi khỏe mạnh, không bệnh hoạn thì ta hãy mừng rỡ ý thức đó là một hạnh phúc.
Có nhiều tiền mà bệnh hoạn liên miên, ăn không được, ngủ không yên, hết nằm nhà
thương này đến nhà thương nọ, có tiền như vậy đâu có sướng!
Mỗi khi cảm thấy
khổ đau, chán nản hay tuyệt vọng thì hãy nhớ lại ta đang còn sức khỏe đây. Còn
sức khỏe thì còn làm được tất cả.
3/ Ta
có đủ sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý)
Có nguời đầy đủ
sức khỏe nhưng lại bị mù, điếc, hoặc câm, què, tàn tật, v.v... Những người này
dù có tiền, có sức cũng đâu sung sướng gì! Bạn có thể tưởng tượng nếu bây giờ
bị mù thì bạn sẽ ra sao? Chỉ cần nhắm mắt lại trong năm, mười phút đi tới đi
lui trong nhà mình xem. Bạn có hiểu được nỗi khổ của người mù không? Vậy mà bạn
đang còn đôi mắt sáng thấy được trời xanh, mây trắng, tai nghe được chim hót,
nhạc hay, mũi ngửi được mùi cơm thơm, miệng nói năng được với người thương, thân
không què quặt, tâm không điên loạn. Như vậy còn đòi hỏi gì hơn? Chỉ cần mất đi
một căn thôi đời bạn sẽ mất đi rất nhiều ý nghĩa.
Dù ở trong cảnh
khổ nào đi nữa, nhớ lại mình còn nguyên vẹn sáu căn cũng đủ an ủi và xóa tan đi
mọi niềm đau.
4/ Ta
có tự do
Tự do ở đây là
không bị tù đày chứ không có nghĩa chính trị hay tôn giáo. Bởi vì theo giáo lý,
tất cả chúng ta đều là tù nhân của ba cõi sáu đường *. Chỉ khi nào thoát
khỏi sinh tử luân hồi mới thực sự là tự do.
Hiện tại bạn có
đang ở tù không? Có đang bị trói buộc, xiềng xích không? Có ai cấm bạn đi đứng
nói năng, ăn uống không? Có ai đánh đập theo dõi kiểm soát bạn không? Bạn có
biết đời sống trong tù ra sao không? Dù đó là tù ở Pháp, ở Mỹ? Có thể bạn nghĩ
tù ở các xứ văn minh giàu có thì sướng hơn ở xứ nghèo chăng? Ở Mỹ nhân viên cai
tù không hành hạ tù nhân nhưng chính những người tù đánh đập, áp bức, hiếp đáp
lẫn nhau rất dã man.
Ngay bây giờ nhìn
lại, bạn có thấy mình được tự do đi đứng nói năng không? Nhớ ai thì lên xe rồ
máy đi thăm, thèm ăn món gì thì ra chợ mua hoặc đi nhà hàng, v.v... Có biết bao
người đang bị tù đày khổ sở, trong đầu chỉ ao ước được tự do như bạn là họ sung
sướng lắm. Vậy mà đang sống tự do bạn có cảm thấy hạnh phúc không? Nếu không
thì bạn hãy ý thức và nhớ lại đi, đừng để khi mất tự do rồi mới mơ ước thì quá
muộn.
5/ Ta
có tiện nghi vật chất
Tiện nghi vật
chất không hẳn là nhà cao cửa rộng, xe hơi, ti vi, tủ lạnh, máy giặt, máy rửa
chén, v.v... Tiện nghi ở đây là những thứ căn bản mà phần đông chúng ta đều có,
đó là cơm ăn, áo mặc, chỗ ở che mưa nắng, không phải đi ăn xin, ngủ đầu đường
xó chợ. Nhiều người ở Việt Nam vẫn tưởng rằng sống ở Pháp hay Mỹ chắc sướng lắm
vì đầy đủ tiện nghi, họ đâu biết là ở đâu cũng có kẻ giàu người nghèo. Ngay tại
Paris, thủ đô ánh sáng, hàng ngày vẫn có nhiều người ăn xin vô gia cư, tiếng
pháp gọi là SDF (sans domicile fixe), ngửa tay đi xin tiền trong xe điện ngầm
(métro), tối đến họ chui vào những gầm cầu thang để ngủ. Nhìn lên chẳng bằng
ai, nhưng nhìn xuống thì ta vẫn còn may mắn hơn nhiều người. Hãy nhìn lại hoàn
cảnh của mình, bạn có đói đến nỗi thiếu ăn không? Có nghèo đến nỗi không còn
mảnh vải che thân? Nếu chưa đến nỗi như vậy thì bạn hãy xem mình đầy đủ. Khi
tâm biết đủ (tri túc) thì bao nhiêu cũng đủ, khi tâm tham muốn đòi hỏi thì bao
nhiêu cũng không đủ. Người biết đủ là người giàu có hạnh phúc vì không thấy
thiếu thốn, người tham lam keo kiệt dù có nhiều tiền vẫn là người nghèo vì
không bao giờ thấy đủ.
6/ Ta
có tình thương
Nhiều người khổ
sở vì cảm thấy cô đơn, không có ai thương mình hết. Không ai thương mình bởi vì
mình đâu có thương ai. Khi trong lòng ta tràn đầy tình thương thì tự nhiên nó
tỏa ra và mọi người sẽ tìm đến. Giống như mùa xuân hoa nở thơm ngát thì tự động
ong bướm bay tới xung quanh. Ai cũng có một trái tim, tiếng Hán là tâm, bản
chất của tâm (tim) là thương yêu. Ta có dư tình thương cho chính mình và cho kẻ
khác. Chỉ cần nhớ lại mình có trái tim thương yêu và đem ra xử dụng.
Hiện tại bạn có
ai là người thân thương không? Có cha mẹ, anh em, vợ con, bạn bè không? Có ai đang
thương và lo lắng cho bạn không? Có tình thương, biết thương và được thương là
một hạnh phúc lớn nhất trên cõi đời này.
7/ Ta
có sự hiểu biết
Hiểu biết ở đây
là hiểu biết đạo lý chứ không phải kiến thức bằng cấp. Không kể người khùng
điên mất trí, hoặc bị bệnh tâm thần mà ngay cả những người bình thường cũng
chưa chắc có sự hiểu biết về nhân quả và đạo đức. Đầu óc ta còn sáng suốt,
không điên khùng mất trí, lại gặp được Phật pháp, học hiểu giáo lý giải thoát,
đó là một duyên lành hy hữu trăm ngàn muôn kiếp khó gặp được.
Ngoài ra nếu là
Phật tử, ta có thể quán chiếu thêm như sau:
- Thật may mắn
hạnh phúc cho ta mỗi ngày được tụng kinh, ngồi thiền, niệm Phật, trì chú, đó là
việc làm đầy ý nghĩa và lợi ích nhất trong ngày vì nó giúp ta giải thoát. Còn
bao nhiêu việc khác như đi làm kiếm tiền, ăn uống, ngủ nghỉ, vui chơi, hưởng
thụ, v.v... đều là tạo nghiệp và gây thêm phiền não.
Nếu quán chiếu
những điều trên chưa đủ để cho bạn hạnh phúc thì bạn cần phải "hạ
sơn" đi vào cuộc đời để tiếp xúc với người sắp chết, người bệnh để thấy họ
khổ ra sao, tiếp xúc với người tàn tật, người tù, người ăn xin, người cô đơn,
người ngu cố chấp thì may ra nó sẽ giúp bạn tỉnh ngộ thấy mình hạnh phúc.
5- Hạnh phúc tuyệt đối
Những loại hạnh
phúc kể trên dù một mình hay hai mình đều tương đối, tạm bợ giúp cho người ta
bớt khổ phần nào trong kiếp luân hồi vô tận, vì thật ra tất cả hạnh phúc thế
gian chỉ là ảo ảnh (maya), như bóng trong gương, như trăng đáy nước, thấy dường
như có mà không thật có, càng tìm kiếm càng thất vọng. Nếu chưa dứt được nghiệp
ái thì cố gắng tu sửa để sống hạnh phúc với người mình thương, đừng gây khổ cho
nhau.
Là người trí cần
phải hướng đến "hạnh phúc tuyệt đối". Theo Đạo, hạnh phúc không phải
là cái gì ở bên ngoài mà ở ngay trong tâm mình, khi tâm chấm dứt thèm khát, ham
muốn thì lúc đó không cần phải chạy đi tìm kiếm cái gì nữa hết. Hạnh phúc chân
thật là sự bình an của tâm hồn. Khi tâm hồn hoàn toàn bình an, vắng lặng không
còn một chút bóng dáng của khát ái, phiền não, lo âu, chấp ngã, ích kỷ thì đó mới
là hạnh phúc chân thật.
Thích Trí Siêu
Trích “Ý Tình Thân”
* Ba cõi: dục giới, sắc giới, vô sắc giới. Sáu
đường: địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, người, atula, trời.
Hạnh phúc
" Tự Do là ung dung trong ràng buộc
Hạnh Phúc là tự tại giữa Khổ Đau "
Hạnh Phúc là tự tại giữa Khổ Đau "
- TS Viên Minh -
HẠNH PHÚC
Không có cái hạnh phúc nào từ trên trời rơi xuống,
cũng không có cái thiên đường nào chỉ toàn là hạnh phúc, bởi ý niệm hạnh phúc
chỉ có khi con người biết cảm nhận khổ đau.
1- Thỏa mãn cảm xúc
Hạnh phúc luôn là
niềm khao khát lớn nhất của con người. Tùy vào hiểu biết của mỗi người qua từng
xã hội và từng thời đại mà hạnh phúc được quan niệm một cách khác nhau. Không
ít người cứ gặp phải xui rủi triền miên nên họ quả quyết rằng trên đời này làm
gì có hạnh phúc. Còn những người trẻ thì cứ mơ mộng hạnh phúc đang ở cuối con
đường mình đang đi. Và hằng bao lớp người đi gần hết kiếp nhân sinh này mà vẫn
đuổi theo hạnh phúc như trò chơi cút bắt; có khi tóm được nó thì nó lại tan
biến, có khi ngỡ như mình tay trắng thì lại thấy nó hiện về. Mặc dù ai cũng
mong muốn có hạnh phúc nhưng khi được hỏi hạnh phúc là gì thì phần lớn đều rất
lúng túng, định nghĩa một cách rất mơ hồ hoặc mỉm cười trong mặc cảm.
Chẳng phải ta
cũng như bất kỳ người trẻ nào đã từng cảm thấy thật hạnh phúc khi nắm được mảnh
bằng tốt nghiệp sau nhiều năm vật lộn với đèn sách? Nhưng vì liền sau đó ta lại
than phiền rằng phải kiếm được việc làm có nhiều tiền, khiến bạn bè nể phục mới
thật là hạnh phúc. Rồi cái cảm giác hạnh phúc ấy không ở lại bao lâu, ta lại
nghĩ nếu không cưới được người mình yêu thì sao là hạnh phúc. Và chưa bao lâu
ta lại trông đứng trông ngồi có một đứa con, rồi thêm đứa nữa cho vui cửa vui
nhà, đẹp lòng hai họ. Những ngày tháng hạnh phúc ấy cũng qua nhanh, bây giờ ta
lại ao ước được dọn ra riêng, được sở hữu một căn hộ đắt tiền thì mới gọi là
hạnh phúc trọn vẹn. Và rồi ta lại bất an khi thấy bạn bè chạy xe đời mới, con
của họ học những trường danh tiếng, chức vụ của họ được nhiều người ngưỡng mộ,
ta lo nếu theo không kịp thì hạnh phúc của mình cũng trở nên tầm thường, chẳng
đáng vào đâu.
Thế là ta cứ bỏ
hình bắt bóng, đứng núi này trông núi nọ, rốt cuộc chẳng biết hạnh phúc là cái
gì. Tuy ta cảm nhận được hạnh phúc chính là cảm giác sung sướng, dễ chịu, thoải
mái khi mình đạt được những thứ gì mình mong muốn, nhưng ta không lý giải nổi
tại sao cảm giác đó đến rồi đi quá vội vàng. Ta mặc kệ. Ta chẳng buồn nhìn lại.
Ta cứ lao tới để nắm bắt những thứ mà ta đinh ninh rằng nếu không có nó thì ta
không thể nào sống hạnh phúc được. Thật ngộ, ta không biết được cái gì trong
hiện tại có thể làm cho ta hạnh phúc thì làm sao ta quả quyết những gì trong
tương lai có thể làm cho ta hạnh phúc? Hạnh phúc có phải là vấn đề của hiện tại
hay tương lai không? Hạnh phúc có cần hội đủ những điều kiện tối ưu cho nó
không? Nói vậy thì những người không có hội đủ những điều kiện ấy thì họ không
thể hạnh phúc sao?
Thật ra những
điều kiện của hạnh phúc vẫn luôn có mặt, chỉ có điều nó không hấp dẫn ta nữa
thôi. Không phải vì nó đã mất đi tính hữu dụng mà chỉ tại ta mau chóng nhàm
chán, nhu cầu hưởng thụ của ta cứ thay đổi liên miên. Một phần do bản năng
hưởng thụ quá lớn, một phần bị tác động bởi tâm thức xã hội. Đôi khi ta vất vả
cả chục năm trời để mua cho bằng được một món đồ cao cấp sang trọng chỉ vì ta
lo sợ nếu không có nó thì đời sống sẽ không được an toàn, hoặc chỉ vì muốn
chứng tỏ mọi người biết mình là ai, chứ ta có hưởng được bao nhiêu đâu. Mọi
tranh đấu của ta chung quy cũng chỉ để có càng nhiều càng tốt những tiện nghi
vật chất và tiện nghi tinh thần (danh dự), để thỏa mãn cảm xúc, phục vụ cái tôi
ham thích hưởng thụ không biết dừng của mình.
Nếu cảm xúc chỉ
là cảm xúc được thỏa mãn khi được hưởng thụ, thì ngay trong giây phút này đây
ta cũng đang nắm trong tay vô số những điều kiện mà nhờ nó ta mới tồn tại một
cách vững vàng. vậy tại sao ta nói mình chưa hạnh phúc? Một đôi mắt sáng để
nhìn thấy cảnh vật và những người thân yêu, một đôi chân khỏe mạnh có thể đi
đến bất cứ nơi nào, một công việc ổn định mang lại thu nhập kinh tế giúp ta thể
hiện được tài năng, một gia đình luôn chan chứa tình thương giúp ta có điểm tựa
vững chắc, một vốn kiến thức đủ để ta mở rộng tầm nhìn ra thế giới bao la, một
tấm lòng bao dung để ta có thể gần gũi và chấp nhận được rất nhiều người… Đó
không phải là điều kiện của hạnh phúc thì là gì? Chỉ cần nhìn sâu một chút ta
sẽ thấy mình đang sở hữu nhiều lắm, nhiều hơn là mình tưởng. Đừng vì một vài
điều chưa toại nguyện mà ta vội than trời trách đất rằng mình là kẻ bất hạnh
nhất trên đời.
Vì vậy, kẻ khôn
ngoan không cần chạy thục mạng đến tương lai để tìm kiếm những thứ chỉ đem tới
những cảm xúc nhất thời mà sẽ dành thời gian và năng lượng để khơi dậy và gìn
giữ những giá trị hạnh phúc mình đang có. Không cần nhiều tiện nghi, chỉ cần
sống một cách an vui là ta đã có hạnh phúc rồi. Mà ngay khi đời sống chưa mấy
ổn định thì ta vẫn có thể hạnh phúc vì thấy mình may mắn giữ được mạng này. Hãy
nhìn một người đang nằm hấp hối trong bệnh viện, một người đang cố ngoi lên
khỏi trận động đất, một người suýt mất người thân trong gang tấc ta sẽ biết
hạnh phúc là thế nào. Hạnh phúc của họ rất đỗi bình thường, đôi khi chỉ là một
hơi thở, một nắm cơm hay một cái nhìn nhau lần cuối. Cho nên không có thứ hạnh
phúc nào đặc biệt ở tương lai đâu, ta đừng mất công tìm kiếm. Có chăng cũng chỉ
là những trạng thái cảm xúc khác nhau mà thôi. Mà cảm xúc thì chỉ có ghiền, chứ
có bao giờ là đủ.
2- Thỏa mãn ý chí
Khi hay tin người
thân đang bị kẹt trong cơn bão tuyết thì dù đang trong nệm ấm chăn êm, ta cũng
không tài nào hạnh phúc được. Ta không cần cái cảm giác sung sướng đó. Chỉ cần
có mặt kịp thời để cứu giúp người thân thì dù có trải qua cái cảm giác lạnh
thấu xương trong bão tuyết ta cũng thấy hài lòng. Cũng vậy, một bà mẹ làm việc
quần quật suốt ngày để kiếm tiền lo cho con ăn học thành tài, tuy phải chấp
nhận sự mệt nhọc thể xác nhưng bà cảm thấy rất hạnh phúc vì đã làm tròn tâm
nguyện. Một người hoạt động chính trị tuy bị khảo tra rất đau đớn, nhưng họ vẫn
thấy tự hào vui sướng vì đã đóng góp vào sự nghiệp giải phóng dân tộc. Như vậy,
hạnh phúc không chỉ là cảm xúc dễ chịu, đôi khi ta phải hy sinh những cảm xúc
ấy để đổi lấy thứ hạnh phúc sâu sắc hơn, đó là thòa mãn ý chí.
Mặc dù thỏa mãn ý
chí vẫn còn đứng trên nền tảng phục vụ cái tôi, phục vụ cho bằng được điều mình
muốn làm, nhưng đó là sự hưởng thụ rất tinh tế và phải để tâm sâu sắc lắm mới
nhận ra. Bởi nó vượt qua những đòi hỏi tầm thường của thói quen, dốc hết bản
năng sinh tồn để chịu đựng, vận dụng tất cả những hiểu biết và kỹ năng luyện
tập để xử lý, nên chắc chắn phẩm chất của nó bền vững hơn loại hạnh phúc chỉ
đơn giản được tạo nên bằng cảm xúc; vì bản chất của cảm xúc luôn biến đổi không
ngừng theo tâm thức và sự chi phối của những đối tượng chung quanh. Nghĩa là
hạnh phúc được thỏa mãn cảm xúc bị điều kiện hóa nhiều hơn hạnh phúc khi được
thỏa mãn ý chí.
Như vậy khi gặp
hoàn cảnh khó khăn, đối đầu với những cảm giác không mấy dễ chịu, ta đừng vội
chống trả. Ta phải ý thức là mình đang thực hiện mục đích lớn lao hay cao cả
nên không thể đòi hỏi những tiện nghi hưởng thụ tầm thường được. Nhưng có khi
mức khó khăn của hoàn cảnh lên tới đỉnh điểm khiến cho cảm giác khó chịu biến
thành khổ đau thì ta cũng đừng vội bỏ chạy, bởi chính cái khổ đau ấy sẽ làm cho
ta ý thức được cái gì là hạnh phúc. Cũng như nếu từng bị đói ta mới biết cái
quý giá của thức ăn, đã từng chịu cái giá rét của mùa đông ta mới mong đợi nắng
ấm về, đã từng bị mất mát chia lìa ta mới nâng niu từng phút giây đoàn tụ, đã
từng trải qua tai nạn thập tử nhất sinh ta mới yêu thương quá đỗi cuộc đời này.
Cho nên ta đừng sợ khổ đau, đừng chia cắt rạch ròi giữa hạnh phúc và khổ đau,
vì nếu không có khổ đau thì ta sẽ không biết thế nào là hạnh phúc. Cũng như
ngọc chỉ có trong đá, sen chỉ ở dưới bùn. Ngọc là sự kết tinh của sỏi đá, sen
là sự kết tinh của bùn nhơ. Không thể nào tìm kiếm ngọc ở ngoài đá hay tìm kiếm
sen ở ngoài bùn được. Vì thế không có cái hạnh phúc nào tự nhiên trên trời rơi
xuống, cũng không có cái thiên đường nào chỉ toàn hạnh phúc, bởi ý niệm hạnh
phúc chỉ có khi con người biết cảm nhận khổ đau. Và còn nơi nào diệu kỳ hơn cõi
đời này vì nó có cả hạnh phúc lẫn khổ đau.
3- Hạnh phúc chân thật
Hạnh phúc khi
được sống chung với người mình yêu thương thường không còn nguyên vẹn sau đôi
ba năm; hạnh phúc mua được căn nhà như ý thường không kéo dài quá đôi ba tháng;
hạnh phúc được thăng chức thường bị lãng quên ngay sau đó đôi ba tuần; hạnh
phúc được khen ngợi thường tan thành mây khói chỉ sau đôi ba tiếng; rồi ta lại
khao khát đi tìm và dễ dãi tin rằng một đối tượng nào đó trong tương lai sẽ
mang lại hạnh phúc lâu bền hơn. Vậy đó, hạnh phúc của ta thật ngắn ngủi, đôi
khi ta mất rất nhiều thời gian và năng lực để tạo dựng nhưng rồi nó cứ bỏ mặc
ta mà đi một cách tàn nhẫn. Tại vì nó vốn ở ngoài ta, ta đã vay mượn những điều
kiện bên ngoài để nhồi nặn ra thành một thứ để ta hưởng thụ nên ta không làm
chủ được nó là phải. Ta biết nhưng không thể làm khác hơn vì ta không thể vượt
qua nổi bóng tối tham vọng mình.
Thật ra hạnh phúc
thỏa mãn cảm xúc hay hạnh phúc thỏa mãn ý chí đều xuất phát từ tâm của con
người chứ không phải do điều kiện bên ngoài. Nhưng vì thiếu hiểu biết nên ta cứ
tưởng nếu không có cái này hay không có cái kia thì ta không thể hạnh ohúc.
Điều kiện bên ngoài cũng cần, nhưng ít thôi. Cái trạng thái tâm lý không muốn
tìm kiếm thêm bất cứ cái gì để phục vụ cho mình và không cần phải loại trù
những gì mình cho là bất lợi mới chính là hạnh phúc chân thật. Nó bằng lòng và
chấp nhận tất cả. Nó chân thật vì nó là thứ hạnh phúc được tạo ra từ sự bình an
của chính lòng mình chứ không vướng kẹt vào hoàn cảnh bên ngoài. Chính vì thế
mà người xưa hay nói lạc phải đi liền với an – an lạc – thì mới bền
vững. Một người không có nhiều tiền, không có quyền lực, không được ai ngưỡng
mộ nhưng luôn sống trong thảnh thơi, lúc nào cũng có thể mỉm cười và tiếp xúc
sâu sắc với những giá trị mầu nhiệm trong thực tại thì chẳng đáng kiếp sống
sao!
Tâm tham cầu và
tâm chống đối thì ai cũng có. Có người trải qua vài biến động lớn lao trong đời
thì những năng lượng ấy đột nhiên suy giảm. Nhưng phần lớn thì những ai nắm
được hạnh phúc chân thật đều phải được chuyển hóa từng ngày những thói quen lâu
đời ấy. Thật ra những mong cầu hay chống đối cũng chỉ là những phản ứng phục vụ
cho cái tôi dại khờ xưa nay của ta thôi. Chỉ cần ta nhận ra bản chất chân thật
của mình, luôn sống trong tỉnh thức để biết rõ mình đang làm gì và với thái độ
nào. Tập buông bỏ dần những tham cầu và chống đối không cần thiết để cái tôi bé
nhỏ này được tan chảy vào vũ trụ, để nó vận hành đồng điệu với mọi người và vạn
vật thì tự nhiên hạnh phúc trong ta sẽ rộng mở đến vô cùng. Vậy nên tâm ta như
thế nào ta sẽ cảm nhận hạnh phúc như thế ấy, bởi hạnh phúc vốn sẵn có trong ta
– ở đây và ngay bây giờ.
" Mỉm cười nhìn đóa hoa
Lòng nghi ngờ tan vỡ
Hạnh phúc ở đây rồi
Dại khờ tìm muôn thuở "
Thích Minh Niệm
Thứ Năm, 14 tháng 7, 2016
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)








