Thứ Năm, 20 tháng 8, 2015

Cách mạng Tháng Tám qua cách nhìn của sử gia phương tây


Đã có nhiều sử gia phương Tây viết về Cách mạng Tháng Tám ở Việt Nam, với hàng chục tác phẩm được công bố trong suốt hơn 50 năm qua. Dù khách quan hay còn định kiến, các tài liệu đó cũng bổ sung cho chúng ta nhiều thông tin tương đối xác tín về cuộc sống, tư duy và hành động của những nhân vật nổi tiếng đương thời.Có thể liệt kê một số lượng không nhỏ các công trình nghiên cứu chuyên sâu của phương Tây về lịch sử Việt Nam, trong đó nhắc tới Cách mạng Tháng Tám như một sự kiện đặc biệt quan trọng. Chẳng hạn, các cuốn: Histoire du Việt Nam de 1940-1952 (Phillip Devillers, 1952), Vietnam: Sociologie d"une guerre (Paul Mus, 1952), Vietnam: The Origins of Revolution (John McAlister, 1969), Vietnam: A History (Stanley Karnow, 1981), The Vietnamese Revolution of 1945 - Roosevelt, Ho Chi Minh and de Gaulle in a World at War (S. Tonnesson, 1991), Vietnam 1945: the Quest for Power (David Marr, 1995).Tác phẩm gần đây nhất mà độc giả Việt Nam được biết, liên quan tới Cách mạng Tháng Tám, có lẽ là cuốn Ho Chi Minh: A Life của William J. Duiker, công bố vào tháng 10/2000.


Mỗi sử gia một góc nhìn
Một điểm thú vị là không phải tất cả các tác giả đều là sử gia chuyên nghiệp. Dường như chính điều đó khiến mỗi người có cách tiếp cận khác nhau về mỗi sự kiện, biến cố lịch sử.
Có những cuốn sách, ví dụ Histoire du Việt NamVietnam: A History là do các nhà báo từng có mặt trong chiến tranh Việt Nam viết nên.
Hoặc cuốn Vietnam: Sociologie d"une guerre của Paul Mus, một học giả về châu Á, cố vấn của Cao ủy Pháp tại Sài Gòn Emile Bollaert. Ông Mus từng gặp Hồ Chủ tịch ở chiến khu để tìm kiếm cơ hội “điều đình” với Chính phủ Việt Nam.
Đó là vào tháng 5/1947, Paul Mus đi từ Hà Nội lên chiến khu gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh, mang theo một số đề nghị từ phía Pháp, rằng Pháp đồng ý ngừng bắn với một số điều kiện như: Việt Minh hạ một phần vũ khí, cho phép quân đội Pháp đi lại tự do trong vùng Việt Minh…
Hồ Chủ tịch hỏi Paul Mus: “Ở địa vị tôi, ông có chấp nhận như thế không?”. “Không” – Mus đáp. Và Hồ Chủ tịch đã bác bỏ các đề nghị “cầu hòa” đó của phía Pháp.
Câu chuyện này được nhà báo Mỹ Stanley Karnow thuật lại trong cuốn sách của ông. Karnow cũng đánh giá Paul Mus là “có tình cảm với Việt Minh”. Về phần mình, Mus được coi là người đầu tiên đã phân tích nguyên nhân xã hội - chính trị sâu xa của Cách mạng Tháng Tám, ngay từ năm 1952.
Theo Mus – từ giác độ một nhà nghiên cứu châu Á và ủng hộ hòa bình ở Đông Dương - chính quyền thực dân Pháp phải chịu trách nhiệm về việc đã phá vỡ cơ sở và cấu trúc kinh tế - xã hội của Việt Nam, khiến Việt Nam trở thành một dân tộc mất cân bằng; và Cách mạng Tháng Tám là cách người Việt Nam lập lại thế cân bằng đó.
Tuy nhiên, khác với Paul Mus, một người cùng thời với ông là ký giả Pháp Phillip Devillers lại cho rằng “cuộc cách mạng không phải là sự bùng nổ… Chỉ có một sự hội tụ kỳ lạ các điều kiện mới khiến cho cách mạng thực hiện được”. (1)
Các điều kiện ấy là Nhật đảo chính Pháp, nạn đói năm Ất Dậu, tình trạng (gần như) vô chính phủ ở Việt Nam. Theo Devillers, nếu không có “sự hội tụ kỳ lạ” những việc này, Việt Minh “khó có cơ may... để thắng được cấu trúc mạnh mẽ của Pháp...”.
Gần tương đồng với quan điểm này của Devillers, nhà sử học Nauy S.Tonesson đưa ra khái niệm “khoảng trống quyền lực”, xuất hiện từ lúc Nhật thế chân Pháp tại Đông Dương nhưng lại bại trận phải đầu hàng Đồng minh. Ông nhận định trong cuốn The Vietnamese Revolution of 1945 - Roosevelt, Ho Chi Minh and de Gaulle in a World at War:
Bằng việc tạo ra khoảng trống quyền lực, các cường quốc đã làm đảo lộn toàn bộ tình hình và do đó đã mời Việt Minh giành chính quyền”.
Sử gia người Mỹ William Duiker lại trình bày các nguyên nhân dẫn đến Cách mạng Tháng Tám một cách hết sức thực tế: “Rõ ràng là nạn đói ở miền Bắc và Trung Việt Nam, kéo dài dai dẳng từ mùa đông trước, đã tạo ra một tình thế thuận lợi cho các lực lượng cách mạng…
Đói kém tràn lan đã tạo ra cơ hội ngàn vàng cho Việt Minh. Họ tiếp tục khuyến khích nông dân đang bị đói, ở những khu vực mà họ đã giải phóng, phá các kho thóc công để chia cho dân nghèo…
... Trong khi đó, lạm phát đang tăng rất nhanh… Với chi phí sinh hoạt lên cao và tình trạng khan hiếm lương thực tiếp diễn, nhiều người dân trung lưu ở Hà Nội và các thành phố lớn bắt đầu để ý đến Việt Minh, và thậm chí một số đã mua “trái phiếu cách mạng” để gây cảm tình với chính quyền cách mạng tiềm tàng trong tương lai”. (2)
Tuy nhiên, cho dù có những khác biệt trong đánh giá về nguyên nhân và bản chất của Cách mạng Tháng Tám, các sử gia đã gặp nhau khi chỉ ra trong cuốn sách của họ vai trò to lớn của Mặt trận Việt Minh, tinh thần dân tộc của thời đại, cũng như tầm tư tưởng vươn xa của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Hồ Chủ tịch - nhà cách mạng của thời đại
Không có gì quá lạ khi hai sử gia người Mỹ Stanley Karnow và William Duiker dành nhiều dòng để viết về mối quan hệ Việt Nam - Mỹ từ thời “xa xôi” 1945-1946. Hai ông cũng nói nhiều về thái độ nhìn nhận và cách ứng xử của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với những đại diện cho Washington ở Việt Nam thời kỳ ấy.
Chẳng hạn, nhà báo Stanley Karnow đã viết tương đối kỹ về một thời gian mà Hồ Chí Minh phải chèo lái con thuyền cách mạng để giữ vững nền độc lập trong một bối cảnh quốc gia và quốc tế rất phức tạp. Ông cho rằng chính việc để quân Tàu Tưởng vào giải giáp phát xít Nhật ở miền Bắc, quân Anh vào tiếp quản miền Nam, chia hai miền tại vĩ tuyến 16, đã là “một công thức nấu món thảm họa”.
Viên đô đốc người Anh, Douglas Gracey, đã tỏ ra có quá ít kinh nghiệm chính trị khi tuyên bố “việc kiểm soát về dân sự và quân sự của người Pháp (đối với Đông Dương) chỉ là trong vài tuần nữa”, bất chấp việc Hồ Chủ tịch tuyên bố độc lập cho Việt Nam vào ngày 2/9/1945.
Còn theo sử gia William Duiker thì mối “duyên nợ” Việt Nam - Hoa Kỳ đã hình thành từ khi viên sĩ quan OSS Archimedes Al Patti gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Tỉnh Tây đầu năm 1945. Tháng 8 năm đó, Patti đến Hà Nội để thu xếp việc trả tự do cho tù binh Đồng minh đang bị Nhật giam giữ, cũng như cung cấp thông tin tình báo về Đông Dương.
Duiker thuật lại về cuộc gặp giữa Hồ Chủ tịch và Archimedes Al Patti vào khoảng trưa ngày 26/8/1945:
… Ông Hồ bày tỏ quan ngại về thái độ của Chính phủ Trung Quốc (chính quyền Tưởng Giới Thạch) và Anh, và cho rằng Chính phủ Anh có chung lợi ích với Pháp trong việc duy trì các thuộc địa châu Á, trong khi người Trung Quốc có lẽ sẽ bán rẻ lợi ích của người Việt Nam để đánh đổi lấy lợi ích cho riêng họ.
Ông Hồ cũng cố gắng thăm dò vị khách của mình về cách nhìn của Mỹ về Đông Dương… nói rằng ông chỉ là “một nhà yêu nước theo chủ nghĩa xã hội tiến bộ”… Nhưng Patti đã kể lại rằng Patti đã tránh né không hứa hẹn gì, và một mực nói rằng ông ta không được quyền tham gia vào những cuộc mạn đàm chính trị”. (3)
Những chi tiết này hé lộ cho chúng ta thấy nhiều điều, có lẽ rất gần với sự thật lịch sử, hoặc ít nhất cũng có giá trị thông tin hết sức thú vị, về tư tưởng và hành động của Hồ Chủ tịch – nhà cách mạng lỗi lạc.
Một chính quyền cách mạng tiến bộ
Cũng William Duiker đã ghi lại những tư liệu cho thấy tinh thần dân tộc và tính nhân văn của một chính phủ cách mạng non trẻ trong hoàn cảnh khó khăn chất chồng. “Chính phủ mới đã thông qua một loạt các biện pháp khẩn cấp để chống nạn đói… Thuế nông nghiệp được giảm và sau đó miễn hoàn toàn, một sở tín dụng nông nghiệp được lập ra để giúp nông dân vay vốn dễ dàng hơn...”. (4)
Chính phủ mới cũng đã ra một sắc lệnh (mà theo Duiker là “đậm màu sắc Khổng giáo”) yêu cầu tất cả mọi người Việt Nam trong vòng một năm phải biết đọc, biết viết. Chính nhờ sự quyết tâm của chính quyền, đến mùa thu năm sau, trên 2 triệu người đã thoát mù chữ.
Chính quyền cách mạng lâm thời nỗ lực phục hồi kinh tế bằng nhiền biện pháp như giảm thuế, chia đất nông nghiệp cho dân, tuy “không tiến hành các biện pháp quốc hữu hóa các ngành công nghiệp và cơ sở thương mại… Chỉ có đất đai của thực dân Pháp và Việt gian mới bị tịch thu”. (5)
Hồ Chủ tịch cũng nêu vấn đề chuẩn bị Tổng tuyển cử, thành lập chính phủ hợp pháp dựa trên quyền tự do dân chủ.
Cuộc cách mạng ở Việt Nam năm 1945 là một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, không chỉ có vậy, đó còn là một cuộc cách mạng chính trị chống lại nền quân chủ thối nát, và là một cuộc cách mạng xã hội chống lại chủ đất và những người thu thuế” – S.Tonesson viết.
Xuất phát từ những quan điểm và tâm thế chính trị khác nhau, không phải tất cả các sử gia đều có thể vươn tới sự thật và mang nó tới cho độc giả. Càng không phải tất cả đều chia sẻ những quan điểm thống nhất về Cách mạng Tháng Tám.
Nhưng các tác phẩm phản ánh những góc nhìn của họ về một sự kiện trọng đại trong lịch sử cận hiện đại Việt Nam, ngoài ra, ít nhiều, chúng đều mang lại cho chúng ta một số lượng không nhỏ những thông tin có giá trị tham khảo.
Theo Vietnamnet
19/8/2015

Thứ Hai, 17 tháng 8, 2015

Thứ Sáu, 14 tháng 8, 2015

Hội chứng Tượng đài

 Quảng trường và Tượng đài Hồ Chí Minh ở thủ đô Moskva của Nga

Tại Thủ đô Nga có Quảng trường Hồ Chí Minh, nơi đặt tượng đài Bác Hồ với hình thức là một bức phù điêu rất lớn, chất liệu bằng đồng cao 5m, đặt trên bệ cũng bằng đồng dài 6m, dày 0,5 mét. Bệ đồng có khắc hàng chữ “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” bằng tiếng Nga được khánh thành năm 1990, năm Bác được UNESCO vinh danh là Anh hùng giải phóng dân tộc – Danh nhân văn hoá kiệt xuất. Tác giả bức tượng là Nghệ sĩ điêu khắc Nhân dân Liên Xô V. Tsigal, người được giải thưởng Lênin và nhiều giải thưởng quốc gia, viện sĩ Viện Hàn lâm Mỹ thuật Liên Xô. 

 

Chỉ cần nhìn dưới góc độ nghệ thuật thôi thì cũng đã thấy não lòng cho nền Mỹ thuật phù điêu nước nhà...


Hội chứng Tượng đài: 
Phần nổi của tảng băng chìm

Gần đây dư luận lại ồn ào phẫn nộ về “hội chứng tượng đài”. Mà không phẫn nộ sao được khi một tỉnh nghèo như Sơn La (với tỉ lệ nghèo đói 64%) dám bỏ ra 1.400 tỷ đồng để xây tượng đài theo kiểu văn hóa “cờ đèn kèn trống”. Nhà toán học trẻ Ngô Bảo Châu đã phẫn nộ dùng tới những từ ngữ nặng nề nhất: “hoặc là khốn nạn hoặc là thần kinh”. Lúc còn sống cụ Hồ thường kêu gọi “cần kiệm liêm chính”. Bây giờ họ “học tập” cụ bằng cách làm ngược lại ý cụ để “cúng cụ”, còn họ thì “xơi lộc”. Phải chăng “hội chứng tượng đài” phản ánh rõ khủng hoảng về nhân cách và dân trí trong công tác văn hóa tư tưởng hiện nay?

Giọt nước tràn ly

Còn nhớ cách đây 5-6 tháng, Hà Nội đã ồn ào phẫn nộ phản đối thành phố quyết định chặt hạ 6700 cây xanh vô tội. Báo chí lề phải và lề trái đều vào cuộc, dư luận trong nước và ngoài nước cùng lên tiếng. Lãnh đạo thành phố buộc phải dừng tay, lùi bước trước dư luận, và buộc phải xử lý một số cá nhân có liên quan để đối phó với dư luận.
Nhưng chặt cây chỉ là “bề nổi của tảng băng chìm”. Bề nổi thường dễ thấy nên dễ bàn, nhưng tảng băng chìm thì khó thấy nên dễ bỏ qua. Khi bề nổi bị chìm đi hay trôi qua rồi, thì đâu lại vào đấy. Trong khi đó tảng băng chìm vẫn còn nguyên, thỉnh thoảng nó lại nổi lên chỗ này chỗ khác, với hình dạng khác. Sau vụ việc chặt cây có lẽ là tượng đài.
Thực ra chuyện xây tượng đài tốn kém, cũng như các lễ hội “cờ đền kèn trống”, đã diễn ra từ lâu rồi. Những vụ việc trước đây gây tai tiếng như cướp ấn Đền Trần, lộn xộn ở Đền Hùng, đánh lộn ở Đền Gióng, thất thoát 30% ở Điện Biên, v.v. tưởng đã chìm rồi, thì gần đây lại nổi lên ở Quảng Nam với dự án “Tượng Mẹ Anh hùng” tốn hơn 400 tỉ đồng, và ở Vĩnh Phúc với dự án xây “Văn Miếu” tốn gần 300 tỉ đồng, làm công chúng phẫn nộ.
Nhưng lần này giọt nước làm tràn ly là tỉnh Sơn La. Lãnh đạo tỉnh đã quá tham chạy bằng được dự án “Bác Hồ với đồng bào các dân tộc Tây Bắc” lên đến 1.400 tỉ đồng (trong khi tỉ lệ nghèo đói là 64%). Có một nghịch lý là các tỉnh càng nghèo, thì xây dựng tượng đài (hay công sở) càng tốn kém (và thất thoát càng lớn). Đây là một nghịch lý đau lòng, nhưng vẫn lặp đi lặp lại. Các quan tỉnh Sơn La vẫn thấy mình còn “thiệt thòi” so với tỉnh bạn.
Trước đây Lai Châu nổi tiếng là tỉnh nghèo nhất nước (với 76%), nhưng lại xây dựng công sở có quy mô hoành tráng nhất nước (tốn mất 554 tỷ đồng). Những sai phạm tại Lai Châu đã lập một kỷ lục về “hội chứng công sở”, bị lên án. Phải chăng Sơn La định lập một kỷ lục mới về “hội chứng tượng đài”. Có lẽ lãnh đạo các tỉnh này quen được Trung ương ưu ái vì là “vùng cao vùng xa”, và quen nghĩ rằng tỉnh nghèo nên dân trí thấp, càng dễ bề thao túng, còn dư luận thì chắc họ không sợ, vì vô cảm nên chẳng hiểu gì về truyền thông.

Dân trí thấp hay quan lại vô cảm

Muốn biết dân trí thấp hay quan lại vô cảm, hãy xem phản ứng của lãnh đạo tỉnh Sơn La. Trong khi dư luận phân nộ đến đỉnh điểm (như Gs Ngô Bảo Châu nói, “bỏ ra 1400 tỷ để xây tượng đài thì hoặc là khốn nạn, hoặc là thần kinh”), và trong khi Thủ tướng đã yêu cầu UBND tỉnh Sơn La “báo cáo về việc đầu tư đề án này và làm rõ những nội dung báo chí phản ánh, gửi Thủ tướng Chính phủ trước ngày 15/8”, thì lãnh đạo tỉnh vẫn chưa tỉnh ngộ. Cùng ngày 5/8/2015, Chủ tịch UBND tỉnh Sơn La nói, “dư luận đang hiểu sai về con số 1400 tỷ” cho công trình tượng đài “Bác Hồ với đồng bào các dân tộc Tây Bắc” và lý giải, “việc xây dựng tượng đài có ý nghĩa lớn về mặt giá trị văn hóa và lịch sử, Ban Bí thư đã cho phép xây dựng và xin ý kiến các Bộ, Ban ngành để thực hiện và Thủ tướng Chính phủ đã đồng ý”. PGĐ Sở Văn Hóa-Thể thao-Du lịch còn nói, “Đã là tình cảm của nhân dân Tây Bắc thì không thể cân đong đo đếm được. Do đó, cá nhân nào nói lãng phí là chưa đúng”… Tuyệt vời!
Phải chăng dư luận đã nói sai và Thủ tướng cũng chỉ đạo sai? Hay là có thế lực thù địch nào đứng sau? Làm quan cấp tỉnh mà chẳng hiểu gì về chính trị và thời cuộc. Sắp lên thớt rồi mà vẫn cãi lấy được, hay tưởng rằng ai đó ở Ban Bí thư và Chính phủ sẽ tiếp tục bảo kê cho họ. Ông Vũ Quốc Hùng, nguyên Phó Chủ nhiệm Ban Kiểm tra Trung ương, nghỉ hưu rồi cũng phải lên tiếng, “dân đang khổ, bão bùng ở khắp nơi, trường học còn thiếu, bệnh viện quá tải, sao lại xây tượng đài đồ sộ như vậy”, và kiến nghị Quốc Hội vào cuộc.
Nhưng cũng không nên chỉ đổ lỗi cho mấy ông quan tham của tỉnh, mà bỏ qua trách nhiệm của “cấp trên nào” đã ký duyệt dự án thất nhân tâm đó. Nếu không được trung ương duyệt và cấp vốn thì UBND một tỉnh nghèo đói như vậy lấy đâu ra 1.400 tỉ đồng để làm dự án “thần kinh” đó. Nghe nói, dự án tượng đài của Sơn La đã được Bộ Văn Hóa-Thể thao-Du lịch, Bộ Xây dựng, Bộ Kế hoạch Đầu tư, Bộ Tài chính ủng hộ, đã trình Ban Bí thư và được sự đồng ý về chủ trương. Dù lãnh đạo tỉnh, hay các bộ ngành liên quan có đổ lỗi cho nhau, hay tranh cãi về tiểu tiết, thì bản chất câu chuyện đã quá rõ rồi. Vấn đề là xử lý thế nào thôi.
Đồng thời, cũng không được bỏ qua trách nhiệm của “cấp dưới” nào đã đồng lõa với họ để ăn theo. Nếu không có các kiến trúc sư, nghệ sĩ điêu khắc tạo hình và các nhà thầu tham gia thì mấy ông UBND tỉnh làm sao có thể tự tay làm đươc dự án khủng đó. Phải chăng “một bộ phận” trí thức và văn nghệ sĩ đã vô cảm hay vì tham lam, đánh mất nhân cách, tiếp tay cho các nhóm lợi ích thao túng công quỹ. Họ cũng phải chịu một phần trách nhiệm.
Cả trên và dưới, cả trong và ngoài đã câu kết thành “nhóm lợi ích”. Bọn họ không những đã lãng phí quá nhiều công quỹ trong khi dân chúng nghèo đói, mà còn dựng lên quá nhiều tượng đài không có giá trị nghệ thuật và tính dân tộc, sau này không biết để làm gì. Nhiều người nhận xét tượng vua Lê Thái Tổ có hình dáng giống một hoàng đế Trung Hoa, và tượng cụ Hồ có phong cách giống Mao, Lê Nin, Stalin (?). Đây không phải chỉ là hệ quả của hệ tư tưởng, mà còn do bàn tay của các nghệ sỹ tạo ra. Cụ Hồ mà sống lại, chắc ông cụ buồn lắm!
Thời trước, Việt Nam Cộng Hòa cũng bỏ tiền ra xây tượng các anh hùng dân tộc ở khắp Sài Gòn (để khuấy động tinh thần dân tộc, chống cộng), nhưng không đến nỗi tốn kém như bây giờ. Các nghệ sỹ lúc đó không đến nỗi vô cảm như bây giờ, và các bức tượng đó còn có giá trị nghệ thuật nhất định. Khi nền móng nhân văn của đất nước đã bị phá vỡ, thì cái ngọn nghệ thuật dễ bị sâu bệnh. Không phải vô cớ mà người ta nói, “Dân nào thì Chính phủ nấy”.

Những góc khuất của tảng băng chìm

Có lẽ Việt Nam là một nước có nhiều tượng đài nhất nhì thế giới. Riêng Hà Nội đã có hơn 30 tượng đài, và người ta đang lên kế hoạch xây thêm hơn 30 tượng khác từ nay đến năm 2020. Theo thống kê, cả nước có 137 tượng đài Hồ Chí Minh các loại, tại 31 tỉnh thành. Bộ Văn hóa – Thể Thao – Du lịch đề xuất từ nay đến năm 2030 sẽ xây thêm 58 tượng đài Hồ chí Minh trên cả nước. Ngoài ra, người ta còn định đầu tư 11,000 tỉ đồng để xây Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, và 1.475 tỉ đồng xây khu tưởng niệm Chu Văn An. Những người trong cuộc nói rằng sau viện bảo tàng là đến Văn miếu, sau Văn miếu là đến tượng đài chủ tịch Hồ Chí Minh. Còn sau tượng đài Hồ Chí Minh là cái gì tiếp, thì chưa dám nói trước.
Xưa nay người ta nói “làm nghề gì ăn nghề ấy”. Chỉ có khác là bây giờ họ ăn trắng trợn hơn nhiều. Có lãnh đạo than thở, “họ ăn không chừa một cái gì”. Ngành điện lực xơi điện. Ngành than xơi than. Ngành dầu khí xơi xăng dầu. Ngành công chính xơi vỉa hè. Ngành giao thông xơi cầu đường. Ngành giáo dục xơi sách giáo khoa. Ngành xây dựng xơi nhà cửa và cây xanh. Còn ngành văn hóa tư tưởng xơi tượng đài, lễ hội. Tất nhiên họ không thể “xơi” một mình, mà phải “nộp tô” theo luật chơi của các nhóm lợi ích. Người dân không còn gì để xơi thì đi ăn cắp vặt. Người ta gọi Việt Nam là “đất nước tận thu” (rent-seeking country).
Thực ra, bản thân tượng đài đâu có vấn đề. Nghệ thuật điêu khắc và tượng đài thì quốc gia nào cũng cần, cũng có. Nhưng “lạm phát” tượng đài với quy mô như trên thì chỉ có tại Việt Nam (hay Bắc Triều Tiên). Các tác phẩm điêu khắc, cũng như hội họa, nếu là sản phẩm của dân trí cao, có giá trị nghệ thuật, là một phần “sức mạnh mềm” (soft power) của một quốc gia. Nhưng đáng tiếc, tượng đài hiên nay là sản phẩm tuyên truyền của ngành văn hóa tư tưởng, do Đảng chỉ đạo. Nó là sản phẩm của dân trí thấp và tham nhũng, nên vô hồn và không có giá trị nghệ thuật. Vì vậy nó không góp phần tạo ra sức mạnh mềm, mà còn phản cảm.
Nếu lập luận rằng xây tượng đài lãnh tụ là để hấp dẫn khách du lịch trong nước, ngoài nước đến xem (như viếng lăng) thì đúng là thần kinh, nếu không phải là bịp bợm. Có thể nói “tham nhũng văn hóa” là thứ tham nhũng tệ hại nhất, vì nó hủy hoại tâm linh và nguyên khí quốc gia. Có thể gọi tham nhũng kiểu đó là “tham nhũng cùng cực” (extreme corruption).
Nhà văn Phạm Đình Trọng gọi đó là “Một trào lưu, một phương cách tham nhũng tập thể, công khai, đang là những cơn bão, những trận mưa lũ tàn phá đất nước, như những trận mưa lũ đang tàn phá Quảng Ninh…”, và kêu gọi các tổ chức xã hội dân sự cần lên tiếng mạnh mẽ về những dự án vô cảm trước những cảnh nghèo đói của người dân. Còn giáo sư Nguyễn Văn Tuấn thì gọi Việt Nam là “đất nước của những tượng đài vô cảm”. Ví dụ, tranh thủ dịp kỷ niệm 1000 năm Thăng Long, họ có thể vô cảm phá mất những di tích lịch sử vô giá, hàng nghìn năm tuổi, để thay bằng một công trình “văn hóa” mới một tuổi, vô hồn.
Không hiểu sao, các chế độ độc tài rất thích dựng tượng lãnh tụ (có lẽ vì tệ sùng bái cá nhân, độc tài chuyên chế). Tại các nước có cơ chế điều hành thiếu minh bạch và mất lòng dân, họ phải tìm mọi cách để kiểm soát dân chúng bằng tuyên truyền. Họ cho rằng một phương tiện tuyên truyền hiệu quả là mượn tượng đài lãnh tụ để duy trì chính danh cho chế độ. Nhưng họ quên mất rằng thời thế đã thay đổi, nên cách làm này không còn tác dụng.
Trước đây người ta hay nói tới hai câu thơ đầy khí phách, “Người ta lớn, bởi vì ngươi cúi xuống. Hỡi nhân dân! Hãy đứng thẳng lên!” (On est grand, parce-que vous vous mettez à genoux. Citoyens! Levez-vous droitement!). Hình như đây là hai câu thơ của Jean-Paul Marat (1743 – 1793) mà Tố Hữu lúc còn trẻ rất tâm đắc. Nhưng bây giờ không thấy ai nhắc đến hai câu thơ cách mạng này nữa (kể cả Tố Hữu, nếu còn sống). Hay là cách mạng đã bị đánh tráo, và thay đổi khái niệm mất rồi? Hay là hai chữ cách mạng, và nhân dân, nay cũng trở nên “nhạy cảm”? Tại sao vô cảm thì không sợ, mà lại sợ nhạy cảm?!

Tóm lại, “Hội chứng Tượng đài” thật đáng sợ. Nên dẹp. Mô phật!

Nguyễn Quang Dy
12-08-2015



Bác Hồ và 'dự án' đúc tượng dang dở 46 năm trước

Báo Hà Nội mới ra ngày chủ nhật 11/1/1969, đưa tin và đăng ảnh HTX cơ khí Trúc Sơn, Ngũ Xá, Ba Đình, đúc thành công tượng đồng Bác Hồ nặng 70 kg. Đọc báo, Chủ tịch Hồ Chí Minh biết được tin này và không hài lòng.
“Hồ Chí Minh - Biên niên tiểu sử” được NXB Chính trị quốc gia phát hành lần đầu tiên, tập 1, năm 1992, vào dịp 102 năm ngày sinh của Người.
Công trình lịch sử này được kết cấu theo đơn vị thời gian (năm, tháng, ngày, có khi đến từng giờ), với những ghi chép kiểu có gì ghi nấy, kèm theo chú thích nhằm làm rõ hơn sự kiện.
Bác Hồ, Hồ Chí Minh, biên niên tiểu sử, Đại tướng, Võ Nguyên Giáp, Tố Hữu
Bác Hồ, Hồ Chí Minh, biên niên tiểu sử, Đại tướng, Võ Nguyên Giáp, Tố Hữu
Quyển tập 10, xuất bản năm 1996, ghi chép lại khoảng 1.000 sự kiện, hoạt động của Hồ Chủ Tịch, trong những năm tháng cuối cùng, từ ngày 1/1/1967 đến ngày Bác ra đi, 2/9/1969. Tại trang 287-288, ghi chép hoạt động của Bác đầu năm 1969, có đoạn như sau:
“Tháng 1, ngày 21
7 giờ 30, tại Phủ Chủ tịch, Chủ tịch Hồ Chí Minh làm việc với đồng chí Hà Huy Giáp về vấn đề cử cán bộ đi công tác ở Pari (Pháp).
9 giờ đến 10 giờ, các bác sĩ khám sức khỏe cho Người.
14 giờ 30, Chủ tịch Hồ Chí Minh làm việc với đồng chí Tố Hữu về vấn đề Hợp tác xã cơ khí Trúc Sơn đúc tượng Người. Người hỏi rất tỉ mỉ: Ai chủ trương làm việc đó và chỉ thị không được làm tiếp nữa (1).
16 giờ 30, Người làm việc với Đại tướng Võ Nguyên Giáp và mời Đại tướng dùng cơm với Người.
Khoảng 21 giờ - 22 giờ, Người cảm thấy đau tức ở mỏ ác. Các bác sĩ Bảo và Mẫn đến khám và làm điện tâm đồ cho Người”.
Chú thích (1) cho sự kiện diễn ra trong ngày này, cuốn sách cho biết:
“Báo Hà Nội mới ra ngày chủ nhật 11-1-1969, đưa tin và đăng ảnh HTX cơ khí Trúc Sơn, Ngũ Xá, Ba Đình, đúc thành công tượng đồng Bác Hồ nặng 70 kg. Đọc báo, Chủ tịch Hồ Chí Minh biết được tin này và không hài lòng”.

Hơn 46 năm sau, lật giở từng trang sử sách, thật thấm thía giá trị lớn lao tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.
Nghĩa Nhân

Bác Hồ và 'dự án' đúc tượng dang dở 46 năm trước ...